Trịnh Văn Dũng
- 13/09/2026
- 15
“Phạm tội 02 lần trở lên” theo Điều 348 BLHS là trường hợp người phạm tội thực hiện từ hai lần hành vi thuộc Điều 348, mỗi lần có đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm và chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự, làm căn cứ áp dụng điểm b khoản 2.
✅Phần 1. Mở đầu
Theo Điều 348 BLHS, “phạm tội 02 lần trở lên” là tình tiết định khung được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 348, được xem xét khi người phạm tội thực hiện từ hai lần trở lên hành vi tổ chức, môi giới cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh hoặc ở lại Việt Nam trái phép và từng lần đáp ứng các điều kiện pháp lý để xác định là một lần phạm tội. Khi áp dụng tình tiết này, hành vi thuộc khung hình phạt từ 05 năm đến 10 năm tù.
Tuy nhiên, không phải cứ có hai lần thực hiện hành vi, hai lần nhận tiền hoặc hai người được đưa đi là đương nhiên bị xác định “phạm tội 02 lần trở lên”. Cần tách từng lần thực hiện để đánh giá đầy đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm, thời điểm phạm tội và các điều kiện pháp lý liên quan. Đây là cơ sở quan trọng để xác định có áp dụng điểm b khoản 2 Điều 348 hay không.
Ngoài ra “Để hiểu đầy đủ dấu hiệu cấu thành, khung hình phạt và các tình tiết định khung của tội danh này, xem thêm tội tổ chức, môi giới cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh hoặc ở lại Việt Nam trái phép theo Điều 348 BLHS.”
- “Phạm tội 02 lần trở lên” theo Điều 348 BLHS là tình tiết định khung tại điểm b khoản 2 Điều 348, áp dụng khi người phạm tội thực hiện từ 02 lần trở lên và mỗi lần đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm.
- Không phải cứ nhận tiền 02 lần, đưa nhiều người hoặc thực hiện nhiều công đoạn là mặc nhiên được xác định phạm tội 02 lần trở lên.
- Khi xác định, cần xem xét riêng từng lần thực hiện hành vi, đồng thời kiểm tra điều kiện về truy cứu trách nhiệm hình sự và thời hiệu theo hướng dẫn áp dụng.
- Nếu mỗi lần phạm tội đều đáp ứng thêm tình tiết “đối với từ 05 đến 10 người”, có thể xem xét áp dụng đồng thời hai tình tiết định khung; nếu mỗi lần chưa đạt ngưỡng này thì có thể áp dụng tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên”.
- “Phạm tội 02 lần trở lên” không đồng nhất với “tái phạm nguy hiểm”; đây là các tình tiết có điều kiện áp dụng khác nhau.
✅Phần 2. Điều 348 quy định thế nào về tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên”?
2.1 “Phạm tội 02 lần trở lên” nằm ở đâu trong Điều 348?
Trong Điều 348 BLHS, khoản 1 quy định cấu thành cơ bản của tội tổ chức, môi giới cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh hoặc ở lại Việt Nam trái phép vì vụ lợi. Khi hành vi thuộc một trong các trường hợp định khung tăng nặng tại khoản 2, trong đó có “phạm tội 02 lần trở lên” tại điểm b khoản 2 Điều 348, khung hình phạt được áp dụng theo khoản này.
Vì vậy, Điều 348 phạm tội 02 lần trở lên cần được hiểu trước hết là một tình tiết định khung hình phạt, không đơn thuần là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự chung theo điểm g khoản 1 Điều 52. Khoản 2 Điều 52 cũng xác định: tình tiết đã được BLHS quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung thì không tiếp tục được tính là tình tiết tăng nặng theo Điều 52, nhằm tránh áp dụng trùng lặp
2.2. Khác gì với “phạm tội nhiều lần” trong cách nói thông thường?
Trong thực tiễn, “phạm tội nhiều lần” thường được dùng để mô tả việc một người thực hiện hành vi vi phạm pháp luật từ hai lần trở lên. Tuy nhiên, khi áp dụng Điều 348, “phạm tội 02 lần trở lên” là một tình tiết định khung có ý nghĩa pháp lý cụ thể, không thể hiểu đơn thuần theo cách nói đời thường. Muốn áp dụng, phải xác định từng lần đều có đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm. Vì vậy, một lần tổ chức cho nhiều người không đồng nghĩa với phạm tội 02 lần trở lên; ngược lại, nhiều hành vi trong một quá trình cũng không mặc nhiên được tách thành nhiều lần phạm tội.
2.3. Khi áp dụng điểm b khoản 2 Điều 348 thì hậu quả pháp lý là gì?
Khi có đủ căn cứ xác định người phạm tội thuộc trường hợp phạm tội 02 lần trở lên, hành vi sẽ được xem xét theo điểm b khoản 2 Điều 348 BLHS. Hậu quả pháp lý trực tiếp là người phạm tội chuyển từ khung hình phạt cơ bản sang khung hình phạt từ 05 năm đến 10 năm tù. Đây là tình tiết định khung, không chỉ là tình tiết tăng nặng thông thường. Tuy nhiên, việc áp dụng khung này phải dựa trên kết quả xác định từng lần thực hiện hành vi có đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm và đáp ứng các điều kiện pháp luật liên quan. Vì vậy, không thể chỉ căn cứ vào việc người phạm tội thực hiện hành vi hai lần hoặc nhận tiền hai lần để mặc nhiên áp dụng điểm b khoản 2 Điều 348.
"Điều 348. Tội tổ chức, môi giới cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh hoặc ở lại Việt Nam trái phép
1. Người nào vì vụ lợi mà tổ chức hoặc môi giới cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh hoặc ở lại Việt Nam trái phép, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
a) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
b) Phạm tội 02 lần trở lên;
c) Đối với từ 05 người đến 10 người;
d) Có tính chất chuyên nghiệp;
đ) Thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
e) Tái phạm nguy hiểm.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Đối với 11 người trở lên;
b) Thu lợi bất chính 500.000.000 đồng trở lên;
c) Làm chết người.
4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
“Nếu hành vi đưa người ra khỏi Việt Nam không chỉ nhằm mục đích đưa qua biên giới mà nhằm để người đó trốn ra nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép, cần tiếp tục phân tích ranh giới giữa Điều 348 và Điều 349 BLHS tại bài viết Phân biệt Điều 348 và Điều 349 BLHS?
✅Phần 3. Điều kiện để xác định phạm tội 02 lần trở lên theo Điều 348
3.1 Mỗi lần thực hiện phải đủ yếu tố cấu thành tội phạm
Để cách xác định phạm tội 02 lần trở lên Điều 348 được chính xác, trước hết phải tách từng hành vi xảy ra trong thực tế để xem xét độc lập, thay vì chỉ đếm số lần gặp gỡ, nhận tiền hoặc đưa đón người. Một người gặp đối tượng nhiều lần, nhận tiền nhiều đợt hoặc tham gia nhiều chuyến đi chưa đủ căn cứ kết luận đã “phạm tội 02 lần trở lên”. Vấn đề cốt lõi là mỗi lần thực hiện phải có đầy đủ dấu hiệu của tội tổ chức, môi giới cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh hoặc ở lại Việt Nam trái phép theo Điều 348. Cách tiếp cận này phù hợp với nguyên tắc nghiệp vụ của VKSNDTC: nếu tách riêng từng hành vi thì mỗi hành vi phải đủ yếu tố cấu thành một tội độc lập mới có cơ sở xem xét tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên”.
Vì vậy, khi đánh giá hồ sơ cần đặt câu hỏi theo từng lần: hành vi cụ thể là gì, đối tượng nào, vai trò của người thực hiện ra sao, mục đích có phù hợp Điều 348 hay không và các dấu hiệu cấu thành đã đầy đủ chưa. Chỉ sau khi xác định từng lần đều cấu thành tội phạm mới tiếp tục xem xét các điều kiện khác để áp dụng điểm b khoản 2 Điều 348.
“Để xác định một người có thực sự thực hiện hành vi thuộc Điều 348 trong từng lần hay chỉ tham gia với vai trò giúp sức, cần phân biệt rõ hành vi tổ chức, môi giới với Giúp sức cho việc xuất nhập cảnh trái phép?
3.2 Các lần phạm tội chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự
Để xác định phạm tội 02 lần trở lên theo Điều 348, không chỉ cần chứng minh có từ hai hành vi đủ yếu tố cấu thành mà còn phải xem xét tình trạng pháp lý của từng lần phạm tội. Theo hướng dẫn áp dụng, các hành vi được dùng để xác định tình tiết này phải chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.
Thực tiễn xét xử cũng cho thấy cần đánh giá cụ thể từng hành vi thay vì chỉ dựa vào số lần phát sinh giao dịch hoặc số người liên quan. Chẳng hạn, Bản án số 206/2025/HS-ST ngày 28/11/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An là một vụ án về hành vi tổ chức cho người khác ở lại Việt Nam trái phép. Việc viện dẫn bản án này có giá trị ở chỗ cho thấy khi giải quyết Điều 348, Tòa án phải xác định cụ thể hành vi, đối tượng và diễn biến phạm tội để làm căn cứ định tội, định khung.
Từ góc độ thực hành, giả sử một người thực hiện hành vi tổ chức cho người khác ở lại Việt Nam trái phép lần thứ nhất nhưng chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự, sau đó tiếp tục thực hiện một hành vi tương tự lần thứ hai. Nếu cả hai lần đều độc lập cấu thành tội phạm và còn trong thời hiệu, có cơ sở xem xét tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên”. Ngược lại, nếu hành vi lần thứ nhất đã được đưa ra xét xử bằng một bản án thì không thể máy móc lấy chính hành vi đã được xét xử đó cộng với hành vi mới để xác định tình tiết định khung cho vụ án sau.
Vì vậy, khi nghiên cứu hồ sơ Điều 348, cần kiểm tra riêng từng lần phạm tội: hành vi đã được xử lý hình sự chưa, có bản án hoặc quyết định tố tụng nào trước đó không, và thời hiệu truy cứu còn hay đã hết. Đây là bước quan trọng để phân biệt giữa việc thực sự “phạm tội 02 lần trở lên” với trường hợp chỉ có nhiều hành vi nhưng không đáp ứng đầy đủ điều kiện pháp lý của tình tiết này.
3.3. Các lần phạm tội chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự
Để xác định phạm tội 02 lần trở lên theo Điều 348, không chỉ xem xét hành vi có xảy ra nhiều lần mà còn phải kiểm tra thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với từng lần phạm tội. Theo nguyên tắc chung, thời hiệu được tính từ ngày tội phạm được thực hiện; trong thời hiệu, một số sự kiện pháp lý có thể làm thời hiệu được tính lại. Vì vậy, một hành vi xảy ra trước đó không mặc nhiên được tính là một lần phạm tội để áp dụng điểm b khoản 2 Điều 348. Cần xác định chính xác thời điểm từng hành vi xảy ra, tình trạng truy cứu và thời hiệu tương ứng trước khi kết luận.
3.4 Phải xác định rõ từng lần phạm tội độc lập
Khi xem xét tình tiết phạm tội 02 lần trở lên theo Điều 348, cần tách riêng từng lần thực hiện hành vi để đánh giá, thay vì cộng gộp các hành vi trong cùng một quá trình. Với lần 1, cần xác định người thực hiện đã làm gì, đối tượng được tổ chức hoặc môi giới là ai, mục đích thực hiện và các dấu hiệu cấu thành tội phạm có đầy đủ hay không. Lần 2 cũng phải được kiểm tra độc lập theo các tiêu chí tương tự. Chỉ khi mỗi lần đều đủ căn cứ xác định là một lần phạm tội theo Điều 348 thì mới có cơ sở xem xét điểm b khoản 2 Điều 348. Cách tiếp cận này giúp tránh nhầm giữa nhiều hành vi trong một vụ việc với nhiều lần phạm tội độc lập.
✅Phần 4. Cách xác định “02 lần trở lên” trong từng dạng hành vi Điều 348
4.1. Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép 02 lần
Để xác định phạm tội 02 lần trở lên theo Điều 348, không thể chỉ dựa vào lời khai về việc trước đó người phạm tội đã thực hiện nhiều chuyến hoặc nhiều lần nhận chở người. Cần tách từng lần thực hiện và có căn cứ chứng minh mỗi lần đều đáp ứng các dấu hiệu của tội phạm. Chẳng hạn, nếu lần thứ nhất tổ chức đưa một nhóm người xuất cảnh trái phép và sau đó tiếp tục thực hiện một lần độc lập với nhóm khác, đồng thời cả hai lần đều được chứng minh đầy đủ, thì có cơ sở xem xét điểm b khoản 2 Điều 348.
Điểm này được thể hiện đáng chú ý trong Bản án số 206/2025/HS-ST ngày 28/11/2025 của TAND tỉnh Nghệ An. Trong vụ án, Nguyễn Văn T và Cao Trọng H bị xét xử về hành vi tổ chức cho 04 công dân Trung Quốc đã nhập cảnh trái phép tiếp tục di chuyển sâu vào lãnh thổ Việt Nam. Các bị cáo còn khai rằng trước đó T đã chuyển 03 chuyến xe cho H để chở người Trung Quốc không có giấy tờ hợp pháp. Tuy nhiên, Tòa án nhận định ngoài lời khai của T và H không có chứng cứ khác để chứng minh, nên không đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các lần này. Tòa chỉ kết luận hành vi ngày 17/6/2025 đủ yếu tố cấu thành tội theo khoản 1 Điều 348.
Giá trị thực tiễn: một vụ án có lời khai về nhiều lần thực hiện hành vi chưa đồng nghĩa với việc đương nhiên được xác định là “phạm tội 02 lần trở lên”. Muốn áp dụng tình tiết định khung này, cơ quan tiến hành tố tụng phải có căn cứ chứng minh từng lần phạm tội.
4.2.Tổ chức hoặc môi giới cho người khác nhập cảnh trái phép 02 lần
Đối với hành vi tổ chức hoặc môi giới cho người khác nhập cảnh trái phép 02 lần, cần xác định riêng từng lần thực hiện thay vì chỉ cộng số người được đưa vào Việt Nam. Chẳng hạn, người phạm tội thực hiện hai chuyến nhập cảnh trái phép, mỗi chuyến tổ chức hoặc môi giới cho một nhóm/người khác nhau và từng lần đều có đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm. Khi đó, có cơ sở xem xét tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên” tại điểm b khoản 2 Điều 348. Điều luật hiện hành xác định đây là tình tiết định khung thuộc khoản 2.
Thực tiễn xét xử cho thấy cách đánh giá này không chỉ mang tính lý thuyết. Trong Bản án số 275/2022/HS-PT, TAND cấp phúc thẩm xác định bị cáo đã 02 lần chở tổng cộng 08 người Trung Quốc nhập cảnh Việt Nam trái phép, qua đó giữ nguyên việc áp dụng điểm b khoản 2 Điều 348.
Điểm cần phân biệt: trọng tâm của tình tiết này là số lần thực hiện hành vi phạm tội, không phải số lượng người trong một lần. Vì vậy, hai chuyến độc lập cần được chứng minh riêng về thời điểm, hành vi, đối tượng và các dấu hiệu cấu thành; không nên chuyển cách phân tích sang tình tiết “đối với từ 05 người đến 10 người”.
4.3. Tổ chức, môi giới cho người khác ở lại Việt Nam trái phép 02 lần
Khi một người tổ chức, môi giới cho người khác ở lại Việt Nam trái phép vào hai thời điểm khác nhau, cần xem xét độc lập từng lần thực hiện để xác định có đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm hay không. Việc hai lần liên quan đến hai người hoặc hai nhóm khác nhau không đồng nghĩa chỉ được xem là hành vi “đối với nhiều người”. Nếu mỗi lần đều đáp ứng đầy đủ dấu hiệu của Điều 348 và có căn cứ chứng minh độc lập, thì có thể xem xét tình tiết phạm tội 02 lần trở lên theo điểm b khoản 2 Điều 348. Trọng tâm là số lần thực hiện hành vi phạm tội, không đơn thuần là số người liên quan.
4.4. Một lần thực hiện nhưng có nhiều người thì có phải “02 lần trở lên”?
Không mặc nhiên. “Phạm tội 02 lần trở lên” và “đối với từ 05 đến 10 người” là những tình tiết định khung khác nhau, cần xác định theo bản chất hành vi. Chẳng hạn, một lần tổ chức cho 06 người ở lại Việt Nam trái phép thì trọng tâm xem xét là tình tiết về số lượng người. Ngược lại, nếu người phạm tội thực hiện hai lần độc lập, lần thứ nhất tổ chức cho 03 người và lần thứ hai tổ chức cho 03 người, thì có thể xem xét phạm tội 02 lần trở lên, nếu mỗi lần đều đủ yếu tố cấu thành và có căn cứ chứng minh.
✅Phần 5. “Phạm tội 02 lần trở lên” và “đối với từ 05 đến 10 người” có thể cùng được áp dụng không?
5.1. Trường hợp mỗi lần đều đủ cấu thành và đều có từ 05–10 người
Giả sử người phạm tội thực hiện hành vi tổ chức hoặc môi giới cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh hoặc ở lại Việt Nam trái phép 02 lần độc lập. Lần thứ nhất có 06 người tham gia, lần thứ hai có 07 người. Nếu mỗi lần đều có đầy đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm, chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa hết thời hiệu truy cứu, thì cần đánh giá riêng từng lần trước khi xác định các tình tiết định khung.
Trong tình huống này, hành vi đã đáp ứng dấu hiệu “phạm tội 02 lần trở lên”. Đồng thời, ở cả hai lần, số người đều nằm trong khoảng từ 05 đến 10 người nên có cơ sở xem xét thêm tình tiết “đối với từ 05 người đến 10 người” theo khoản 2 Điều 348. Không nên cộng 06 và 07 thành 13 người để chuyển sang khoản 3; việc xác định số lượng phải gắn với từng lần phạm tội và đúng tình tiết mà Điều 348 quy định.
5.2 Trường hợp hai lần nhưng mỗi lần dưới 05 người
Không phải cứ người phạm tội thực hiện hành vi hai lần là đồng thời được áp dụng tình tiết “đối với từ 05 đến 10 người”. Theo hướng dẫn, phải xem số lượng người trong từng lần phạm tội, chứ không cộng cơ học số người của các lần để tạo thành một ngưỡng mới. Nếu lần thứ nhất tổ chức, môi giới cho 02 người và lần thứ hai cho 03 người, mỗi lần đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm, chưa bị truy cứu và chưa hết thời hiệu, thì mỗi lần đều chưa đạt ngưỡng 05 người. Trường hợp này có cơ sở áp dụng tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên” theo điểm b khoản 2 Điều 348, nhưng không áp dụng thêm tình tiết “đối với từ 05 đến 10 người”.
Điểm cần nhấn mạnh về mặt thực tiễn: 02 người + 03 người = 05 người về mặt số học, nhưng không có nghĩa là đã đáp ứng tình tiết “đối với từ 05 đến 10 người”. Việc đánh giá phải gắn với từng lần phạm tội theo đúng hướng dẫn áp dụng
5.3 Trường hợp một lần 06 người, một lần 03 người
Đây là trường hợp cần phân tích kỹ vì rất dễ cộng gộp số người của hai lần phạm tội rồi kết luận có tình tiết “đối với từ 05 đến 10 người”. Cách hiểu này không chính xác. Với giả định lần thứ nhất tổ chức, môi giới cho 06 người, lần thứ hai cho 03 người, cần xem xét riêng từng lần: lần đầu đã đạt ngưỡng 05–10 người, còn lần thứ hai chưa đạt. Hướng dẫn áp dụng yêu cầu đối chiếu số lượng người theo từng lần phạm tội, chứ không lấy 06 + 03 = 09 để mặc nhiên xác định cả hai lần đều thuộc tình tiết này.
Vì vậy, không thể chỉ dựa vào tổng số 09 người để kết luận áp dụng đồng thời hai tình tiết. Cần xác định từng lần có đủ yếu tố cấu thành, chưa bị truy cứu và chưa hết thời hiệu; sau đó mới đối chiếu tình tiết về số lượng người. Đây chính là điểm cần làm rõ khi phân biệt “phạm tội 02 lần trở lên” với “đối với từ 05 đến 10 người” trong Điều 348.
“Trường hợp có nhiều người tham gia trong một hoặc nhiều lần thực hiện hành vi cần được phân biệt giữa số lần phạm tội và số lượng người được tổ chức, môi giới được trình bày chi tiết tại bài viết Điều 348: Tổ chức, môi giới cho nhiều người bởi đây là hai tình tiết định khung khác nhau.”
✅Phần 6. 5 tình huống thực tế để xác định có “02 lần trở lên” hay không
6.1 Tình huống 1: Hai lần tổ chức xuất cảnh trái phép
Giả sử A hai lần tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép vào hai thời điểm khác nhau. Lần thứ nhất, A sắp xếp người và phương tiện để đưa một nhóm người qua biên giới; sau đó, A tiếp tục thực hiện việc tương tự đối với một nhóm khác. Nếu kết quả điều tra chứng minh cả hai lần đều có đầy đủ dấu hiệu cấu thành tội theo Điều 348, chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa hết thời hiệu, thì có cơ sở xem xét tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên” tại điểm b khoản 2 Điều 348. Trong thực tiễn, cần tách riêng từng lần thực hiện để đánh giá, không chỉ dựa vào tổng số người hoặc số tiền A nhận được.
6.2. Tình huống 2: Một lần đưa 06 người xuất cảnh trái phép
A chỉ thực hiện một lần tổ chức cho 06 người xuất cảnh trái phép. Trường hợp này không thể chỉ dựa vào số lượng 06 người để kết luận A “phạm tội 02 lần trở lên”, bởi số lần phạm tội và số người được tổ chức là hai tiêu chí khác nhau. Nếu hành vi của A đủ yếu tố cấu thành Điều 348, cơ quan tiến hành tố tụng cần xem xét tình tiết định khung liên quan đến số lượng người, thay vì chia một lần thực hiện thành nhiều lần phạm tội. Việc xác định phải dựa vào diễn biến cụ thể của hành vi và căn cứ pháp lý tương ứng.
6.3. Tình huống 3: Hai lần, mỗi lần đưa 03 người
Trường hợp một người thực hiện hành vi tổ chức hoặc môi giới cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh hoặc ở lại Việt Nam trái phép 02 lần, trong đó mỗi lần liên quan đến 03 người, cần đánh giá từng lần độc lập. Nếu cả hai lần đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì có cơ sở xem xét tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên” theo Điều 348. Không nên cộng 03 người của lần thứ nhất với 03 người của lần thứ hai để mặc nhiên xác định tình tiết “đối với từ 05 đến 10 người”, bởi tiêu chí số lượng người phải được xem xét theo căn cứ pháp luật tương ứng, không phải phép cộng cơ học giữa các lần phạm tội.
6.4. Tình huống 4: Hai lần nhưng lần đầu chưa đủ cấu thành tội phạm
Không phải cứ có hai lần thực hiện hành vi là đương nhiên áp dụng tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên”. Chẳng hạn, lần đầu người này có hành vi liên quan đến việc đưa người xuất cảnh trái phép nhưng chưa đủ căn cứ xác định đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội Điều 348; lần thứ hai mới đáp ứng đầy đủ điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự. Khi đó, lần đầu không mặc nhiên được tính là một lần phạm tội để áp dụng điểm b khoản 2 Điều 348. Việc xác định phải dựa trên chứng cứ và đánh giá độc lập từng hành vi.
6.5. Tình huống 5: Hành vi lần trước đã được xét xử
Không nên lấy một hành vi đã được Tòa án xét xử làm “lần phạm tội” để cộng cơ học với hành vi mới nhằm áp dụng tình tiết phạm tội 02 lần trở lên theo Điều 348. Khi đánh giá vụ án sau, cần xác định độc lập hành vi mới và xem xét bản án trước có ý nghĩa pháp lý nào đối với nhân thân, tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm hay không. Cách tiếp cận này khác với trường hợp hai hành vi cùng được xem xét trong một vụ án; thực tiễn xét xử Điều 348 áp dụng điểm b khoản 2 khi xác định được hai lần phạm tội trong cùng vụ án.
✅Phần 7. Phân biệt “phạm tội 02 lần trở lên” với các tình tiết định khung khác của Điều 348
7.1 “02 lần trở lên” khác “đối với từ 05 đến 10 người”
“Phạm tội 02 lần trở lên” và “đối với từ 05 người đến 10 người” đều là tình tiết định khung tại khoản 2 Điều 348, nhưng căn cứ xác định hoàn toàn khác nhau. Phạm tội 02 lần trở lên tập trung vào số lần người phạm tội thực hiện hành vi thuộc Điều 348; cần xem xét từng lần có đủ yếu tố cấu thành tội phạm hay không. Trong khi đó, tình tiết đối với từ 05 người đến 10 người tập trung vào số lượng người mà hành vi tổ chức, môi giới hướng tới. Vì vậy, không được cộng số người của nhiều lần để mặc nhiên kết luận có tình tiết “02 lần trở lên”, cũng không thể coi một lần tổ chức cho nhiều người là phạm tội nhiều lần. Hai tình tiết này lần lượt được quy định tại điểm b và điểm c khoản 2 Điều 348.
| Tiêu chí | “Phạm tội 02 lần trở lên” | “Đối với từ 05 đến 10 người” |
|---|---|---|
| Trọng tâm | Số lần thực hiện hành vi phạm tội | Số người liên quan đến hành vi |
| Cách xác định | Đánh giá từng lần có đủ yếu tố cấu thành Điều 348 | Xác định số lượng người mà hành vi hướng tới |
| Căn cứ pháp lý | Điểm b khoản 2 Điều 348 | Điểm c khoản 2 Điều 348 |
| Không được nhầm | Hai lần phải được chứng minh là hai lần phạm tội; không chỉ dựa vào số lần nhận tiền | Một lần tổ chức cho nhiều người không tự động trở thành “02 lần trở lên” |
7.2. “02 lần trở lên” khác “thu lợi bất chính”
“Phạm tội 02 lần trở lên” và “thu lợi bất chính” là hai căn cứ định khung khác nhau trong Điều 348 BLHS. Tình tiết phạm tội 02 lần trở lên tập trung vào số lần người phạm tội thực hiện hành vi và yêu cầu từng lần phải được xem xét về dấu hiệu cấu thành tội phạm. Trong khi đó, thu lợi bất chính tập trung vào lợi ích vật chất mà người phạm tội có được từ hành vi. Vì vậy, việc một người nhận tiền nhiều lần không đồng nghĩa đương nhiên với “phạm tội 02 lần trở lên”; ngược lại, khi xác định số lần phạm tội, không nên chuyển trọng tâm sang tính toán khoản thu lợi nếu đó không phải vấn đề cần giải quyết.
7.3 “02 lần trở lên” khác “tái phạm nguy hiểm”
“Phạm tội 02 lần trở lên” và “thu lợi bất chính” là hai căn cứ định khung khác nhau trong Điều 348 BLHS. Tình tiết phạm tội 02 lần trở lên tập trung vào số lần người phạm tội thực hiện hành vi và yêu cầu từng lần phải được xem xét về dấu hiệu cấu thành tội phạm. Trong khi đó, thu lợi bất chính tập trung vào lợi ích vật chất mà người phạm tội có được từ hành vi. Vì vậy, việc một người nhận tiền nhiều lần không đồng nghĩa đương nhiên với “phạm tội 02 lần trở lên”; ngược lại, khi xác định số lần phạm tội, không nên chuyển trọng tâm sang tính toán khoản thu lợi nếu đó không phải vấn đề cần giải quyết.
| Tiêu chí | Phạm tội 02 lần trở lên | Thu lợi bất chính |
|---|---|---|
| Trọng tâm xác định | Số lần thực hiện hành vi phạm tội | Khoản lợi bất chính có được từ hành vi |
| Bản chất | Tình tiết định khung dựa trên số lần phạm tội | Tình tiết định khung dựa trên giá trị lợi ích bất chính |
| Căn cứ tại Điều 348 | Điểm b khoản 2 | Các mức thu lợi tương ứng tại khoản 2, khoản 3 |
| Cách xem xét | Phải xác định từng lần có đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm hay không | Phải xác định khoản lợi bất chính và căn cứ pháp lý tương ứng |
| Có cần có tiền không? | Không phải tiêu chí quyết định số lần phạm tội | Có, vì trọng tâm là lợi ích vật chất bất chính |
| Hai lần nhận tiền có đồng nghĩa phạm tội 02 lần? | Không. Còn phải xác định mỗi lần có cấu thành tội phạm hay không | Không mặc nhiên; số lần nhận tiền không tự quyết định số tiền thu lợi bất chính |
| Một lần phạm tội nhưng thu lợi lớn | Không vì thu lợi lớn mà thành “02 lần trở lên” | Có thể phát sinh tình tiết về mức thu lợi nếu đáp ứng điều kiện luật định |
| Một người thực hiện hành vi 02 lần | Có thể áp dụng nếu từng lần đáp ứng điều kiện pháp lý | Chỉ xem xét thêm thu lợi bất chính nếu có căn cứ |
| Tiêu đề | Xác định khi nào áp dụng tình tiết 02 lần trở lên | Xác định khoản thu lợi và ngưỡng định khung |
Vì vậy, khi phân tích phạm tội 02 lần trở lên theo Điều 348, cần ưu tiên làm rõ số lần và tính độc lập của từng lần phạm tội, thay vì lấy số tiền thu được làm căn cứ chính. Trường hợp cần xác định mức thu lợi bất chính, bạn có thể tham khảo nội dung bài viết Thu lợi bất chính trong Điều 348 để tránh nhầm lẫn giữa hai tình tiết định khung.
✅Phần 8. Những sai lầm thường gặp khi áp dụng điểm b khoản 2 Điều 348
8.1. Cộng số người của nhiều lần để kết luận “02 lần trở lên”
Một sai lầm thường gặp là cộng tổng số người ở nhiều lần thực hiện hành vi rồi kết luận người phạm tội thuộc trường hợp “phạm tội 02 lần trở lên”. Cách xác định này không chính xác. Tình tiết tại điểm b khoản 2 Điều 348 tập trung vào số lần thực hiện tội phạm, không phải tổng số người. Vì vậy, phải tách từng lần thực hiện để xác định hành vi có đủ yếu tố cấu thành tội phạm hay không.
8.2. Cứ nhận tiền 02 lần là phạm tội 02 lần
Việc nhận tiền hai lần không tự động đồng nghĩa với việc phạm tội hai lần theo Điều 348. Trong thực tiễn, một giao dịch có thể được thanh toán thành nhiều đợt nhưng chỉ liên quan đến một lần thực hiện hành vi phạm tội. Ngược lại, hai lần tổ chức hoặc môi giới độc lập, mỗi lần đều đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm, mới là cơ sở xem xét tình tiết này. Do đó, cần xác định bản chất và thời điểm của từng hành vi, thay vì chỉ dựa vào số lần nhận tiền.
8.3. Một lần tổ chức cho nhiều người = phạm tội nhiều lần
Một lần tổ chức hoặc môi giới cho nhiều người không mặc nhiên được xác định là “phạm tội 02 lần trở lên”. Trường hợp này trước hết phải xem xét số lượng người và các tình tiết định khung tương ứng của Điều 348. “Nhiều người” phản ánh quy mô đối tượng trong một lần thực hiện, còn “02 lần trở lên” phản ánh số lần thực hiện tội phạm. Hai tiêu chí này có bản chất khác nhau và không thể thay thế cho nhau.
8.4. Đồng nhất “02 lần trở lên” với “tái phạm”
“Phạm tội 02 lần trở lên” và “tái phạm” là hai vấn đề pháp lý khác nhau. Tình tiết tại điểm b khoản 2 Điều 348 nhằm xác định số lần người phạm tội thực hiện hành vi thuộc Điều 348 theo các điều kiện luật định. Trong khi đó, tái phạm liên quan đến tình trạng đã bị kết án, chưa được xóa án tích và tiếp tục thực hiện tội phạm theo quy định của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, không thể dùng hai khái niệm này thay thế cho nhau.
✅Phần 9. Bản án thực tế: áp dụng điểm b khoản 2 Điều 348 như thế nào?
9.1 Tóm tắt diễn biến vụ án
Trong một bản án được công khai, bị cáo Nguyễn Văn Q bị xác định có 02 lần tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép. Cụ thể, ngày 10/10/2020, Q câu móc với người khác để tham gia đưa 04 người xuất cảnh trái phép; đến ngày 11/01/2021, Q tiếp tục trực tiếp tham gia đưa một người khác xuất cảnh trái phép. Hai lần thực hiện diễn ra ở các thời điểm khác nhau và đều nhằm mục đích thu lợi bất chính. Từ các lời khai cùng tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ, Tòa án kết luận hành vi của Q đủ căn cứ xử lý về tội tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép theo điểm b khoản 2 Điều 348 BLHS, với tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên”.
9.2. Tòa án xác định 02 lần phạm tội dựa trên căn cứ nào?
Điểm đáng chú ý trong vụ án là Tòa án không xác định tình tiết “02 lần trở lên” chỉ từ số người được đưa xuất cảnh hoặc số lần thu tiền. Hội đồng xét xử làm rõ hai hành vi xảy ra ở hai thời điểm khác nhau, với từng nhóm người và hành vi tổ chức xuất cảnh trái phép cụ thể. Lần thứ nhất xảy ra ngày 10/10/2020, lần thứ hai ngày 11/01/2021; cả hai đều được chứng minh bằng lời khai và các tài liệu, chứng cứ phù hợp trong hồ sơ. Trên cơ sở đó, Tòa kết luận bị cáo đã thực hiện tội phạm 02 lần và áp dụng điểm b khoản 2 Điều 348. Cách đánh giá này cho thấy trọng tâm phải là xác định từng lần thực hiện hành vi phạm tội, thay vì cộng cơ học số người hoặc số tiền.
9.3 Giá trị tham khảo khi xử lý vụ án tương tự
Vụ án cho thấy khi xem xét phạm tội 02 lần trở lên theo Điều 348, cần tách riêng từng lần thực hiện: thời điểm, hành vi, người được tổ chức hoặc môi giới và chứng cứ chứng minh. Nếu từng lần đều đủ căn cứ xác định là hành vi phạm tội độc lập, tình tiết tại điểm b khoản 2 Điều 348 có thể được đặt ra. Đây là cơ sở thực tiễn quan trọng khi đánh giá hồ sơ vụ án tương tự.
✅Phần 10. Câu hỏi phạm tội 02 lần trở lên theo Điều 348
❓ Phạm tội 02 lần trở lên theo Điều 348 có phải bị phạt 05–10 năm tù không?
Có. Nếu đủ điều kiện áp dụng tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên”, hành vi thuộc điểm b khoản 2 Điều 348 và nằm trong khung hình phạt 05–10 năm tù. Tuy nhiên, không phải cứ thực hiện hai hành vi là mặc nhiên áp dụng tình tiết này; từng lần phải đủ yếu tố cấu thành tội phạm và đáp ứng các điều kiện pháp lý liên quan.
❓ Một lần tổ chức cho 06 người có được tính là phạm tội 02 lần không?
Không. Một lần tổ chức cho 06 người không đồng nghĩa với phạm tội 02 lần trở lên. Trường hợp này cần xem xét tình tiết “đối với từ 05 người đến 10 người” tại điểm c khoản 2 Điều 348. Việc xác định “02 lần trở lên” phải dựa trên số lần thực hiện hành vi phạm tội, không phải chỉ dựa vào số người trong một lần.
❓ Hai lần tổ chức cho mỗi lần 03 người có áp dụng điểm b khoản 2 Điều 348 không?
Có thể. Nếu cả hai lần đều độc lập đủ yếu tố cấu thành tội phạm, chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự thì có cơ sở áp dụng điểm b khoản 2 Điều 348. Vì mỗi lần chỉ có 03 người nên chưa đáp ứng tình tiết “đối với từ 05 đến 10 người”.
❓ Hai lần phạm tội, mỗi lần 06 người thì có áp dụng cả hai tình tiết định khung không?
Có thể áp dụng cả hai. Nếu mỗi lần đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm, chưa bị truy cứu, chưa hết thời hiệu và mỗi lần đều liên quan từ 05 đến 10 người, hướng dẫn áp dụng cho phép xem xét đồng thời tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên” và “đối với từ 05 đến 10 người”.
❓ Phạm tội 02 lần trở lên có giống tái phạm nguy hiểm không?
Không. “Phạm tội 02 lần trở lên” và “tái phạm nguy hiểm” là hai tình tiết định khung độc lập tại khoản 2 Điều 348. Phạm tội 02 lần trở lên tập trung vào số lần thực hiện tội phạm; tái phạm nguy hiểm phụ thuộc vào điều kiện về tiền án, việc tái phạm và các quy định tương ứng của Bộ luật Hình sự.
“Không nên đồng nhất việc một người thực hiện hành vi phạm tội từ hai lần với tái phạm nguy hiểm; hai tình tiết có điều kiện áp dụng khác nhau và được đánh giá độc lập tại bài viết Tái phạm nguy hiểm trong Điều 348?
✅Phần 11. Kết luận
Khi xem xét phạm tội 02 lần trở lên theo Điều 348 BLHS, không nên chỉ căn cứ vào số lần nhận tiền, số người được đưa đi hoặc việc người phạm tội xuất hiện nhiều lần trong cùng một kế hoạch. Vấn đề cốt lõi là phải tách từng lần thực hiện hành vi để xác định mỗi lần có đủ yếu tố cấu thành tội phạm, đồng thời chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hay không. Đây là cách tiếp cận quan trọng để tránh nhầm lẫn giữa số lần phạm tội với số lượng người được tổ chức, môi giới.
Nếu đáp ứng các điều kiện trên, hành vi có thể bị xác định thuộc điểm b khoản 2 Điều 348, với khung hình phạt từ 05 năm đến 10 năm tù. Trường hợp mỗi lần phạm tội đồng thời đáp ứng điều kiện về số lượng người theo luật, cơ quan tiến hành tố tụng còn phải xem xét việc áp dụng đồng thời các tình tiết định khung tương ứng.
Trong thực tiễn, việc xác định đúng từng lần phạm tội có ý nghĩa trực tiếp đối với định tội, định khung và lượng hình; vì vậy cần đánh giá toàn bộ diễn biến, vai trò của người thực hiện và chứng cứ của từng lần hành vi thay vì chỉ dựa vào một dấu hiệu riêng lẻ.
☎️ Liên hệ luật sư Hotline/Telegram/Zalo: 0338 919 686 | 0969 566 766
Website: https://luatdungtrinh.vn|
Email:luatdungtrinh@gmail.com|
- Tags