Có. Tội trộm cắp tài sản có thể được hưởng án treo nếu người bị kết án đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo Điều 65 Bộ luật Hình sự và quy định hướng dẫn về án treo. Việc được hưởng án treo không chỉ phụ thuộc vào mức hình phạt mà còn phải xem xét nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng, nơi cư trú và khả năng tự cải tạo của người phạm tội.

✅Phần 1. MỞ ĐẦU

Có. Người phạm tội trộm cắp tài sản có thể được hưởng án treo nếu sau khi Tòa án quyết định hình phạt tù, người đó đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo Điều 65 Bộ luật Hình sự và hướng dẫn tại Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP. Tuy nhiên, không phải cứ phạm tội lần đầu, đã bồi thường thiệt hại hoặc bị phạt tù dưới 03 năm là đương nhiên được hưởng án treo.

Khi xem xét điều kiện hưởng án treo tội trộm cắp, Tòa án phải đánh giá tổng thể mức hình phạt, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng và việc người phạm tội có cần thiết phải cách ly khỏi xã hội hay không.

Bài viết tập trung làm rõ 4 vấn đề: điều kiện hưởng án treo, trường hợp phạm tội trộm cắp có thể được xem xét án treo, những tình tiết làm tăng hoặc giảm khả năng được hưởng án treo và các trường hợp pháp luật loại trừ hoặc thực tiễn khó đáp ứng điều kiện.

✅Phần 2. Tội trộm cắp tài sản có được hưởng án treo không?

2.1 Án treo có áp dụng đối với người phạm tội trộm cắp không?

Có. Người phạm tội trộm cắp tài sản có thể được hưởng án treo nếu sau khi xét xử, Tòa án tuyên phạt tù nhưng người phạm tội đáp ứng đầy đủ các điều kiện để được hưởng án treo theo quy định pháp luật. Tuy nhiên, án treo không phải là một hình phạt độc lập mà là chế định cho phép người bị phạt tù được cải tạo tại cộng đồng trong thời gian thử thách.

Vì vậy, cần phân biệt rõ hai bước: trước hết, Tòa án phải xác định người phạm tội có đủ căn cứ chịu hình phạt tù; sau đó mới xem xét có đủ điều kiện cho hưởng án treo hay không. Việc phạm tội theo khoản 1 Điều 173 BLHS chỉ là một yếu tố để đánh giá, không đồng nghĩa đương nhiên được hưởng án treo. Ngoài mức hình phạt, Tòa án còn phải xem xét nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng và khả năng tự cải tạo của người phạm tội.

2.2.Trường hợp nào người phạm tội trộm cắp có cơ hội hưởng án treo?

Không phải cứ bị xử phạt tù về tội trộm cắp tài sản là được hưởng án treo. Khi xem xét, Tòa án phải đánh giá đồng thời nhiều điều kiện, trong đó trước hết là mức hình phạt tù được tuyên phải thuộc giới hạn pháp luật cho phép xem xét án treo. Sau đó, Tòa án tiếp tục đánh giá nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ và khả năng tự cải tạo của người phạm tội.

Về thực tế, câu hỏi “trộm cắp tài sản khi nào được án treo” thường được xem xét theo các nhóm yếu tố sau:

  • Mức hình phạt: Người phạm tội phải được tuyên mức phạt tù trong phạm vi đủ điều kiện xem xét án treo.
  • Nhân thân: Thông thường phải có nhân thân tương đối tốt, được đánh giá dựa trên tiền án, tiền sự và quá trình chấp hành pháp luật.
  • Tình tiết giảm nhẹ: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường hoặc khắc phục hậu quả có thể là những yếu tố có lợi khi lượng hình.
  • Nơi cư trú hoặc làm việc rõ ràng: Đây là cơ sở để cơ quan có thẩm quyền giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
  • Khả năng tự cải tạo: Tòa án phải có căn cứ cho rằng không cần thiết bắt người phạm tội chấp hành hình phạt tù tại cơ sở giam giữ.

Ngược lại, nếu thuộc trường hợp pháp luật không cho hưởng án treo, việc có nhiều tình tiết giảm nhẹ cũng không đương nhiên dẫn đến án treo.

Trước khi đánh giá khả năng hưởng án treo, cần xác định hành vi đã đủ yếu tố cấu thành [tội trộm cắp tài sản theo Điều 173 BLHS] và người phạm tội bị truy cứu ở khoản nào của điều luật.


✅Phần 3. Điều kiện hưởng án treo đối với tội trộm cắp theo Điều 65 BLHS

3.1 Điều kiện về mức hình phạt tù

Theo Điều 65 BLHS, một trong những điều kiện đầu tiên để xem xét cho hưởng án treo là người phạm tội bị xử phạt tù không quá 03 năm. Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP cũng xác định án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, được Tòa án xem xét dựa trên mức hình phạt, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ của người phạm tội.

Tuy nhiên, cần tránh cách hiểu rằng tội trộm cắp tài sản theo Điều 173 có thể được hưởng án treo nếu mức án dưới 03 năm. Đây chỉ là điều kiện cần, không phải điều kiện đủ. Người bị kết án còn phải đáp ứng đồng thời các điều kiện khác về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, nơi cư trú hoặc làm việc và khả năng tự cải tạo theo quy định.

"Điều 65. Án treo

1. Khi xử phạt tù không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ 01 năm đến 05 năm và thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.

2. Trong thời gian thử thách, Tòa án giao người được hưởng án treo cho cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc hoặc chính quyền địa phương nơi người đó cư trú để giám sát, giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó.

3. Tòa án có thể quyết định áp dụng đối với người được hưởng án treo hình phạt bổ sung nếu trong điều luật áp dụng có quy định hình phạt này.

4. Người được hưởng án treo đã chấp hành được một phần hai thời gian thử thách và có nhiều tiến bộ thì theo đề nghị của cơ quan, tổ chức có trách nhiệm giám sát, giáo dục, Tòa án có thể quyết định rút ngắn thời gian thử thách.

5. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này."

3.2 Có nhân thân phù hợp mới được xem xét án treo

Nhân thân là yếu tố quan trọng khi Tòa án đánh giá khả năng cho người phạm tội trộm cắp tài sản hưởng án treo. Theo hướng dẫn hiện hành về Điều 65 BLHS, người bị xử phạt tù phải có nhân thân đáp ứng yêu cầu, thể hiện qua việc chấp hành chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của công dân tại nơi cư trú, nơi làm việc.

Khi xem xét, Tòa án có thể đánh giá tổng thể tiền án, tiền sự, việc chấp hành pháp luật và quá trình sinh sống, làm việc của người phạm tội. Người có quá trình chấp hành pháp luật tốt, ổn định và không có vấn đề đáng kể về nhân thân sẽ có lợi thế hơn khi xin án treo. Ngược lại, tiền án, tiền sự hoặc quá trình vi phạm pháp luật có thể làm giảm khả năng được đánh giá là có nhân thân phù hợp. Tuy nhiên, không nên đồng nhất mọi trường hợp từng có tiền án, tiền sự với việc đương nhiên không được hưởng án treo; pháp luật hiện hành vẫn quy định một số trường hợp có thể được xem xét nếu đáp ứng các điều kiện khác.

3.3. Các tình tiết giảm nhẹ có ý nghĩa thế nào?

Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có vai trò quan trọng khi Tòa án đánh giá khả năng cho người phạm tội trộm cắp tài sản hưởng án treo. Theo hướng dẫn hiện hành, người bị phạt tù phải có từ 02 tình tiết giảm nhẹ trở lên, trong đó có ít nhất 01 tình tiết thuộc khoản 1 Điều 51 BLHS; đồng thời phải đáp ứng các điều kiện khác và không thuộc trường hợp bị loại trừ.

Trong thực tế, các tình tiết thường được xem xét gồm thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả hoặc phạm tội lần đầu khi đủ căn cứ pháp luật. Hoàn cảnh gia đình khó khăn hoặc tình tiết khác cũng có thể được xem xét nếu được chứng minh phù hợp.

Tuy nhiên, có tình tiết giảm nhẹ không đồng nghĩa đương nhiên được hưởng án treo. Tòa án vẫn phải đánh giá tổng thể nhân thân, mức độ nguy hiểm của hành vi và khả năng tự cải tạo của người phạm tội.

3.4. Có nơi cư trú rõ ràng và khả năng tự cải tạo

Đây là điều kiện có ý nghĩa thực tiễn quan trọng khi Tòa án xem xét cho hưởng án treo. Theo hướng dẫn tại Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP, người bị kết án phải có nơi cư trú rõ ràng hoặc nơi làm việc ổn định để cơ quan, tổ chức có thẩm quyền thực hiện việc giám sát, giáo dục. Đồng thời, Tòa án phải xét thấy người phạm tội có khả năng tự cải tạo, việc cho hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội và không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

Nói cách khác, Tòa án không chỉ xem xét người phạm tội đã làm gì mà còn đánh giá liệu việc không buộc họ chấp hành hình phạt tù trong trại giam có vẫn bảo đảm mục đích giáo dục, phòng ngừa hay không.

Vì vậy, nơi cư trú ổn định, thái độ chấp hành pháp luật và khả năng tự cải tạo là những yếu tố quan trọng để đánh giá khả năng được hưởng án treo đối với tội trộm cắp tài sản.

3.5. Điều kiện “không cần thiết phải bắt chấp hành hình phạt tù”

Đây là điều kiện thể hiện rõ nhất tính cá thể hóa hình phạt khi xem xét cho hưởng án treo. Theo hướng dẫn tại Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP, án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện; Tòa án chỉ áp dụng khi căn cứ vào nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ và xét thấy không cần bắt người phạm tội phải chấp hành hình phạt tù. Quy định này hiện được hướng dẫn theo Văn bản hợp nhất 02/VBHN-TANDTC năm 2022.

Vì vậy, án treo không phải cơ chế giảm án tự động. Việc bị cáo bị phạt tù không quá 03 năm mới chỉ tạo cơ sở để xem xét, còn Tòa án phải đánh giá tổng thể mức độ nguy hiểm của hành vi, hậu quả đã xảy ra, nhân thân, thái độ sau khi phạm tội, khả năng tự cải tạo và yêu cầu phòng ngừa tội phạm.

Đối với điều kiện án treo đối với tội trộm cắp, cần đặc biệt xem xét tính chất, mức độ của hành vi chiếm đoạt và các tình tiết về nhân thân. Người phạm tội có tiền án, tái phạm hoặc có nhiều tình tiết bất lợi sẽ khó đáp ứng điều kiện này, dù mức hình phạt cụ thể không quá 03 năm tù.


✅Phần 4.Tội trộm cắp lần đầu có được hưởng án treo không?

4.1 Phạm tội lần đầu có phải điều kiện bắt buộc?

Phạm tội lần đầu không đồng nghĩa đương nhiên được hưởng án treo, nhưng là yếu tố quan trọng khi Tòa án đánh giá nhân thân và khả năng tự cải tạo của người phạm tội. Theo quy định về án treo, việc xem xét không chỉ dựa vào việc người phạm tội có “lần đầu” hay không mà còn phải căn cứ vào mức hình phạt được tuyên, các tình tiết giảm nhẹ, nhân thân và những điều kiện khác theo quy định pháp luật.

Vì vậy, trường hợp trộm cắp tài sản lần đầu chỉ có thể được xem xét hưởng án treo khi đồng thời đáp ứng đầy đủ các điều kiện luật định. Ngược lại, người phạm tội lần đầu nhưng mức án, nhân thân hoặc các tình tiết khác không đáp ứng yêu cầu thì vẫn có thể phải chấp hành hình phạt tù. Phạm tội lần đầu là một yếu tố có lợi, không phải “vé tự động” để được án treo.

4.2 Trộm cắp lần đầu, thiệt hại nhỏ và đã bồi thường

Trường hợp người phạm tội trộm cắp tài sản lần đầu, giá trị tài sản không lớn, sau khi thực hiện hành vi đã tự nguyện trả lại tài sản hoặc bồi thường thiệt hại, đồng thời thành khẩn khai báo và thể hiện thái độ ăn năn thì đây là những yếu tố có lợi khi Tòa án xem xét hình phạt.

Ví dụ, A lần đầu thực hiện hành vi trộm cắp, tài sản có giá trị không lớn, sau khi bị phát hiện đã chủ động khắc phục hậu quả, trả lại tài sản và thừa nhận sai phạm. Những tình tiết này có thể được xem xét theo hướng có lợi cho A khi lượng hình và đánh giá điều kiện hưởng án treo.

Tuy nhiên, không thể khẳng định A đương nhiên được hưởng án treo. Tòa án còn phải xem xét mức hình phạt dự kiến, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và các điều kiện khác theo quy định pháp luật.

4.3 Trộm cắp lần đầu nhưng có tình tiết bất lợi

Lần đầu phạm tội trộm cắp tài sản không đồng nghĩa người phạm tội đương nhiên được hưởng án treo. Khi quyết định hình phạt, Tòa án còn xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, vai trò của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Chẳng hạn, dù chưa từng bị kết án nhưng người phạm tội có thủ đoạn tinh vi, thực hiện hành vi với đồng phạm, có sự cấu kết mang tính phạm tội có tổ chức, hoặc vụ án có nhiều tình tiết tăng nặng thì khả năng được hưởng án treo sẽ bị ảnh hưởng đáng kể. Trường hợp hậu quả lớn hoặc thuộc khung hình phạt nghiêm khắc hơn, điều kiện áp dụng án treo càng khó đáp ứng.

Vì vậy, “phạm tội lần đầu” chỉ là một yếu tố được xem xét, không phải căn cứ độc lập để Tòa án cho hưởng án treo. Cần đánh giá đồng thời các điều kiện theo quy định về án treo và toàn bộ hồ sơ vụ án.


✅Phần 5. Bồi thường, khắc phục hậu quả có được hưởng án treo không?

5.1 Bồi thường có phải điều kiện bắt buộc để hưởng án treo?

Không. Bồi thường, khắc phục hậu quả không phải là điều kiện độc lập bắt buộc để người phạm tội trộm cắp tài sản được hưởng án treo. Việc cho hưởng án treo phải căn cứ tổng thể vào mức hình phạt tù, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng và khả năng tự cải tạo của người phạm tội theo quy định pháp luật. Tuy nhiên, nếu người phạm tội tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả, đây có thể là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đồng thời là yếu tố để Tòa án đánh giá thái độ và khả năng cải tạo tại cộng đồng. Vì vậy, bồi thường có ý nghĩa hỗ trợ nhưng không đồng nghĩa chắc chắn được hưởng án treo.

5.2. Bồi thường đầy đủ ảnh hưởng thế nào đến việc lượng hình?

Bồi thường đầy đủ có thể tạo lợi thế đáng kể khi Tòa án lượng hình và xem xét khả năng cho hưởng án treo, nhưng không làm mất trách nhiệm hình sự. Về nguyên tắc, việc tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả có thể được xem xét là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Khi kết hợp với các yếu tố thuận lợi khác như thành khẩn khai báo, nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng và mức hình phạt phù hợp, việc khắc phục hậu quả giúp củng cố cơ sở đánh giá người phạm tội có khả năng tự cải tạo mà không cần chấp hành hình phạt tù. Tuy nhiên, Tòa án vẫn phải xem xét đầy đủ các điều kiện hưởng án treo, không chỉ dựa vào việc đã bồi thường.

5.3. Đã trả lại tài sản nhưng vẫn có thể không được án treo?

Có. Việc đã trả lại tài sản hoặc bồi thường đầy đủ là tình tiết có lợi khi Tòa án xem xét hình phạt, nhưng không đồng nghĩa đương nhiên được hưởng án treo. Nếu người phạm tội có nhân thân xấu, thuộc trường hợp tái phạm, có nhiều tình tiết bất lợi hoặc hành vi có mức độ nguy hiểm cao, Tòa án vẫn có thể quyết định áp dụng hình phạt tù mà không cho hưởng án treo. Vì vậy, khi đánh giá khả năng án treo trong tội trộm cắp tài sản, cần xem xét tổng thể nhân thân, tính chất hành vi, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và điều kiện luật định, thay vì chỉ căn cứ vào việc đã khắc phục hậu quả.


✅Phần 6. Có tiền án, tái phạm thì tội trộm cắp có được án treo không?

6.1.Tiền án ảnh hưởng thế nào đến khả năng hưởng án treo?

Tiền án là yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến việc đánh giá điều kiện hưởng án treo, nhưng không phải cứ có tiền án là đương nhiên bị loại khỏi khả năng này. Khi xem xét cho hưởng án treo, Tòa án đánh giá nhân thân của người phạm tội cùng các điều kiện khác theo quy định về án treo.

Đáng lưu ý, án tích chưa được xóa có thể khiến việc đánh giá nhân thân bất lợi hơn, đặc biệt khi người phạm tội tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp. Ngược lại, trường hợp đã được xóa án tích hoặc thuộc trường hợp được coi là không có án tích thì không phải chịu bất lợi chỉ vì tiền án trước đây; pháp luật vẫn cho phép xem xét án treo nếu đáp ứng các điều kiện khác.

Vì vậy, khi đánh giá tội trộm cắp tài sản có được hưởng án treo không, cần kiểm tra chính xác tình trạng án tích tại thời điểm phạm tội và xét xử, thay vì chỉ căn cứ vào việc người phạm tội “đã từng có tiền án”.

6.2. Tái phạm có làm mất hoàn toàn khả năng hưởng án treo không?

Tái phạm không nên được hiểu đơn giản là cứ có tái phạm thì đương nhiên không được hưởng án treo. Trước hết, cần kiểm tra chính xác tình trạng pháp lý của bản án trước, đặc biệt việc án tích đã được xóa hay chưa và người phạm tội có đang thuộc trường hợp được pháp luật coi là chưa bị kết án hay không. Chỉ khi đủ căn cứ mới có thể xác định hành vi mới thực sự là tái phạm. Việc đánh giá này có ý nghĩa trực tiếp khi xem xét điều kiện hưởng án treo.

Tiếp đó, cần đối chiếu trường hợp cụ thể với các điều kiện hạn chế hoặc loại trừ án treo theo quy định hiện hành. Thực tiễn xét xử cho thấy Tòa án không chỉ xem xét mức hình phạt mà còn đánh giá nhân thân, tình tiết vụ án và khả năng tự cải tạo của bị cáo.

Vì vậy, muốn kết luận tội trộm cắp tài sản có được hưởng án treo không, phải xác định đúng tình trạng án tích và tư cách tái phạm trước khi đánh giá các điều kiện án treo.

6.3. Tái phạm nguy hiểm và khả năng hưởng án treo

Tái phạm nguy hiểm là yếu tố đặc biệt bất lợi khi xem xét cho hưởng án treo, bởi đây là dấu hiệu phản ánh mức độ tái diễn hành vi phạm tội và nhân thân của người phạm tội. Khi đánh giá khả năng hưởng án treo, không nên chỉ nhìn vào mức hình phạt dự kiến mà phải đối chiếu đồng thời với các trường hợp không cho hưởng án treo theo nghị quyết hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán TANDTC.

Đặc biệt, khoản 6, Điều 3, Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP, được sửa đổi bởi Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP, yêu cầu Tòa án xem xét thận trọng, chặt chẽ khi quyết định cho hưởng án treo, nhất là đối với những trường hợp thuộc nhóm bị hạn chế hoặc không được hưởng án treo.

Vì vậy, trong vụ án trộm cắp, nếu người phạm tội bị xác định tái phạm nguy hiểm, khả năng hưởng án treo sẽ gặp trở ngại đáng kể và cần được đối chiếu trực tiếp với từng điều kiện, trường hợp loại trừ theo nghị quyết. Nội dung về cách xác định tình trạng này được phân tích riêng tại [Tái phạm trong tội trộm cắp tài sản: Điều kiện và cách xác định?].

Điều 3. Những trường hợp không cho hưởng án treo

6. Người phạm tội thuộc trường hợp tái phạm, tái phạm nguy hiểm.


✅Phần 7. Những trường hợp tội trộm cắp khó được hưởng án treo

7.1 Có tình tiết thuộc trường hợp không cho hưởng án treo

Khi xem xét tội trộm cắp tài sản có được hưởng án treo không, không nên chỉ nhìn vào mức án dự kiến hoặc số lượng tình tiết giảm nhẹ. Theo Điều 3 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP, pháp luật đặt ra một số trường hợp loại trừ án treo. Điểm cần lưu ý là các trường hợp này không phải đều áp dụng tuyệt đối như nhau sau khi được sửa đổi.

Về logic, án treo hướng đến khả năng không cần cách ly người phạm tội khỏi xã hội mà vẫn bảo đảm việc cải tạo, phòng ngừa. Vì vậy, những yếu tố như tái phạm, tái phạm nguy hiểm, phạm tội có tính chất chuyên nghiệp, bỏ trốn bị truy nã hoặc một số trường hợp phạm tội nhiều lần sẽ làm giảm đáng kể khả năng được hưởng án treo.

Đặc biệt, Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP đã bổ sung các ngoại lệ đối với trường hợp phạm tội nhiều lần. Do đó, khi đánh giá một vụ trộm cắp cụ thể, cần đối chiếu đúng từng lần phạm tội và vai trò của bị cáo, thay vì kết luận máy móc rằng “phạm tội nhiều lần thì chắc chắn không được án treo”.

Điểm a, khoản 2, Điều 1, Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP sửa đổi bổ sung Điều 3, Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP

"2. Sửa đổi, bổ sung Điều 3 như sau:

a) Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 3 như sau:

“2. Người thực hiện hành vi phạm tội bỏ trốn và đã bị các cơ quan tiến hành tố tụng truy nã hoặc yêu cầu truy nã, trừ trường hợp đã ra đầu thú trước khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử”.

b) Sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều 3 như sau:

“4. Người phạm tội bị xét xử trong cùng một lần về nhiều tội, trừ một trong các trường hợp sau đây:

a) Người phạm tội là người dưới 18 tuổi;

b) Người phạm tội bị xét xử và kết án về 02 tội đều là tội phạm ít nghiêm trọng hoặc người phạm tội là người giúp sức trong vụ án đồng phạm với vai trò không đáng kể”.

c) Sửa đổi, bổ sung khoản 5 Điều 3 như sau:

“5. Người phạm tội 02 lần trở lên, trừ một trong các trường hợp sau:

a) Người phạm tội là người dưới 18 tuổi;

b) Các lần phạm tội đều là tội phạm ít nghiêm trọng;

c) Các lần phạm tội, người phạm tội là người giúp sức trong vụ án đồng phạm với vai trò không đáng kể;

d) Các lần phạm tội do người phạm tội tự thú”.

7.2. Phạm tội nhiều lần, có tổ chức hoặc tính chất nghiêm trọng

Khi xem xét án treo đối với tội trộm cắp tài sản, việc người phạm tội thực hiện hành vi nhiều lần, có sự câu kết chặt chẽ hoặc thể hiện tính chất nghiêm trọng có thể làm giảm đáng kể khả năng được hưởng án treo. Những yếu tố này cho thấy mức độ nguy hiểm của hành vi và khả năng cải tạo tại cộng đồng cần được đánh giá thận trọng hơn. Vì vậy, dù mức hình phạt được tuyên nằm trong giới hạn có thể xem xét án treo, người phạm tội vẫn không đương nhiên được hưởng chế định này. Tòa án phải đánh giá tổng thể tính chất vụ án, vai trò của người phạm tội và các điều kiện liên quan trước khi quyết định.

7.3 Nhân thân không tốt, không có khả năng tự cải tạo

Nhân thân là yếu tố được xem xét quan trọng khi đánh giá khả năng hưởng án treo đối với tội trộm cắp tài sản. Người có nhiều tiền án, thường xuyên vi phạm pháp luật hoặc không chấp hành nghiêm các nghĩa vụ trong thời gian được quản lý sẽ gặp bất lợi khi chứng minh khả năng tự cải tạo tại cộng đồng. Tương tự, thái độ không tích cực như không thành khẩn, thiếu ý thức khắc phục hậu quả hoặc không thể hiện sự ăn năn cũng có thể khiến Tòa án đánh giá thận trọng hơn. Đặc biệt, nếu hồ sơ thể hiện nguy cơ tái phạm cao, mục tiêu giáo dục tại cộng đồng khó đạt được thì khả năng áp dụng án treo sẽ giảm đáng kể. Vì vậy, mức án không phải yếu tố duy nhất quyết định việc được hưởng án treo.


✅Phần 8. Trộm cắp khoản 1 Điều 173 có được hưởng án treo không?

8.1 Thuộc khoản 1 Điều 173 có đồng nghĩa được án treo?

Không. Việc bị xét xử theo khoản 1 Điều 173 BLHS chỉ cho biết hành vi thuộc khung hình phạt cơ bản của Tội trộm cắp tài sản, chứ không đồng nghĩa người phạm tội đương nhiên được hưởng án treo.

Theo Điều 65 BLHS và hướng dẫn tại Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP, Tòa án phải đánh giá mức hình phạt tù thực tế được tuyên, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, nơi cư trú hoặc làm việc và khả năng tự cải tạo của người phạm tội. Vì vậy, cùng thuộc khoản 1 Điều 173 nhưng người này có thể được hưởng án treo, người khác vẫn phải chấp hành hình phạt tù.

Đặc biệt, cần phân biệt trường hợp khoản 1 Điều 173 được áp dụng do tài sản dưới 2 triệu đồng nhưng người phạm tội đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản và chưa được xóa án tích. Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP có quy định riêng về trường hợp tình tiết “đã bị kết án” được sử dụng làm dấu hiệu định tội; do đó không thể chỉ nhìn vào tiền án để kết luận chắc chắn người phạm tội không được hưởng án treo.

8.2. Những yếu tố quyết định khả năng hưởng án treo

Không có một yếu tố riêng lẻ nào bảo đảm người phạm tội được hưởng án treo. Sau khi xác định mức hình phạt tù, Tòa án còn phải đánh giá tổng thể nhân thân, tình tiết của vụ án và khả năng tự cải tạo. Điều 65 BLHS cùng các nghị quyết hướng dẫn về án treo là căn cứ để Tòa án xem xét vấn đề này. Thực tiễn xét xử cũng cho thấy các yếu tố như nhân thân tốt, có tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng, có nơi cư trú rõ ràng và có khả năng tự cải tạo thường được xem xét đồng thời.

Yếu tố Tác động
Mức án được tuyên Điều kiện đầu tiên để xem xét án treo
Nhân thân Rất quan trọng
Tình tiết giảm nhẹ Có lợi
Tình tiết tăng nặng Bất lợi
Khắc phục hậu quả Có lợi
Tiền án/tái phạm Bất lợi
Nơi cư trú Điều kiện cần xem xét
Khả năng tự cải tạo Yếu tố trọng tâm

Đặc biệt, tiền án và tình trạng tái phạm cần được kiểm tra chính xác trước khi đánh giá khả năng hưởng án treo; không nên chỉ dựa vào việc người phạm tội thuộc khoản 1 Điều 173. Ngược lại, việc tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả và có nhiều tình tiết giảm nhẹ có thể là những yếu tố thuận lợi khi Tòa án lượng hình.

“Để biết cụ thể Tội trộm cắp tài sản bị phạt bao nhiêu và từng khung hình phạt được áp dụng thế nào, xem thêm [Tội trộm cắp tài sản bị phạt bao nhiêu?].


✅Phần 9. 5 tình huống thực tế về án treo trong vụ án trộm cắp

9.1 Trộm lần đầu, tài sản giá trị không lớn, đã bồi thường

Người phạm tội lần đầu, tài sản bị chiếm đoạt có giá trị không lớn, thuộc khung hình phạt cho phép xem xét án treo và đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả có thể được Tòa án cân nhắc cho hưởng án treo nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện luật định. Tuy nhiên, phạm tội lần đầu không đồng nghĩa đương nhiên được hưởng án treo; Tòa án còn đánh giá nhân thân, tình tiết giảm nhẹ và khả năng tự cải tạo.

9.2 Trộm lần đầu nhưng có nhiều tình tiết tăng nặng

Trường hợp phạm tội lần đầu nhưng có nhiều tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, khả năng được hưởng án treo sẽ thấp hơn đáng kể. Tòa án phải đánh giá tổng thể tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, nhân thân và nhu cầu cách ly người phạm tội khỏi xã hội. Đặc biệt, nếu hành vi thuộc khung hình phạt cao hoặc có tình tiết định khung nghiêm trọng thì không thể chỉ dựa vào việc “lần đầu phạm tội” để xin án treo.

9.3 Trộm cắp có tiền án chưa xóa án tích

Người thực hiện hành vi trộm cắp khi có tiền án chưa được xóa án tích phải được xem xét riêng về nhân thân và tình trạng tái phạm. Nếu tiền án trước đó là về tội chiếm đoạt tài sản và hành vi mới thuộc trường hợp định tội theo khoản 1 Điều 173, cần phân biệt dấu hiệu định tội với tình tiết tăng nặng để tránh áp dụng trùng lặp. Trường hợp bị xác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm, khả năng hưởng án treo sẽ bị hạn chế đáng kể.

9.4 Có nhiều hành vi trộm cắp trong cùng vụ án

Tình huống: Người phạm tội thực hiện nhiều hành vi trộm cắp và bị truy cứu trong cùng vụ án. Điều kiện: Cần xác định tổng thể tội danh, mức hình phạt và điều kiện hưởng án treo theo quy định. Yếu tố có lợi/bất lợi: Việc có nhiều hành vi là yếu tố bất lợi, nhất là khi bị xác định phạm tội 02 lần trở lên. Nhận định: Khả năng hưởng án treo cần được đánh giá trên toàn bộ hồ sơ, không chỉ căn cứ mức án dự kiến.

Nếu người phạm tội thực hiện nhiều hành vi chiếm đoạt độc lập, cần xác định riêng từng lần phạm tội và tình tiết pháp lý tương ứng. Trường hợp này cần phân biệt với [phạm tội 02 lần trở lên trong tội trộm cắp tài sản], bởi tình tiết này có thể ảnh hưởng đến trách nhiệm hình sự và việc đánh giá điều kiện án treo.

9.5 Được tuyên 06 tháng/01 năm tù và đáp ứng điều kiện án treo

Tình huống: Bị cáo bị Tòa án tuyên 06 tháng hoặc 01 năm tù về tội trộm cắp tài sản. Điều kiện: Mức hình phạt thuộc giới hạn có thể xem xét án treo và người phạm tội đáp ứng các điều kiện khác theo quy định. Yếu tố có lợi/bất lợi: Nhân thân tốt, nhiều tình tiết giảm nhẹ, nơi cư trú rõ ràng và đã khắc phục hậu quả là yếu tố có lợi. Nhận định: Có cơ sở để xem xét án treo, nhưng cần đối chiếu đầy đủ hồ sơ và điều kiện pháp luật tại thời điểm xét xử.


✅Phần 10. Câu hỏi thường gặp về án treo đối với tội trộm cắp tài sản

❓ Trộm cắp tài sản có được hưởng án treo không?

Có thể. Người phạm tội trộm cắp tài sản có thể được hưởng án treo nếu mức phạt tù không quá 03 năm và đáp ứng đầy đủ các điều kiện về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, nơi cư trú hoặc nơi làm việc ổn định, khả năng tự cải tạo và không thuộc trường hợp bị loại trừ. Việc hưởng án treo do Tòa án xem xét, quyết định.

❓ Trộm cắp lần đầu có chắc chắn được án treo không?

Không. Phạm tội lần đầu chỉ là một yếu tố được xem xét khi đánh giá điều kiện hưởng án treo, không đồng nghĩa đương nhiên được hưởng án treo. Tòa án còn phải căn cứ mức hình phạt tù, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, nơi cư trú hoặc làm việc và các điều kiện khác theo quy định. Vì vậy, cần đánh giá toàn bộ vụ án.

❓ Trộm cắp dưới 2 triệu có được án treo không?

Có thể, nhưng chỉ đặt vấn đề án treo khi hành vi đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm và người phạm tội bị phạt tù không quá 03 năm. Việc tài sản dưới 2 triệu đồng không tự quyết định án treo. Trước hết phải xác định căn cứ truy cứu theo khoản 1 Điều 173 BLHS, sau đó mới xem xét các điều kiện hưởng án treo.

Tuy nhiên, trước khi bàn đến án treo, cần xác định hành vi có bị truy cứu hình sự hay chỉ bị xử lý hành chính. Đặc biệt, trường hợp tài sản dưới 2 triệu đồng cần đối chiếu các điều kiện đặc biệt tại Điều 173, xem thêm [trộm cắp tài sản dưới 2 triệu đồng có bị truy cứu hình sự không].

❓ Bồi thường cho bị hại có được hưởng án treo không?

Bồi thường, khắc phục hậu quả là yếu tố có lợi nhưng không tự động được hưởng án treo. Việc tự nguyện bồi thường có thể được xem xét là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khi đáp ứng điều kiện luật định. Tuy nhiên, Tòa án vẫn phải đánh giá đồng thời mức hình phạt, nhân thân, các tình tiết khác và điều kiện hưởng án treo trước khi quyết định.

❓ Có tiền án thì có được hưởng án treo không?

Không thể kết luận chỉ dựa vào việc “có tiền án”. Cần xác định bản án trước đã được xóa án tích hay chưa, loại tội phạm, thời điểm phạm tội mới và tình trạng tái phạm, tái phạm nguy hiểm nếu có. Nếu thuộc trường hợp pháp luật hạn chế hoặc loại trừ việc cho hưởng án treo thì không được áp dụng, dù mức án có thể không quá 03 năm.

❓ Tái phạm có được hưởng án treo không?

Phải đối chiếu cụ thể tình trạng tái phạm và các điều kiện hưởng án treo. Không nên mặc nhiên kết luận mọi trường hợp tái phạm đều được hoặc đều không được hưởng án treo. Cần xác định bản án trước, tình trạng án tích, tính chất của lần phạm tội mới và các trường hợp pháp luật quy định không cho hưởng án treo, rồi mới đánh giá khả năng áp dụng.


✅Phần 11. Kết luận

Tội trộm cắp tài sản có thể được hưởng án treo nếu người phạm tội đáp ứng đầy đủ các điều kiện pháp luật quy định. Tuy nhiên, không phải cứ bị phạt tù trong mức có thể xem xét án treo là đương nhiên được hưởng án treo. Tòa án phải đánh giá tổng thể các điều kiện theo Điều 65 Bộ luật Hình sự, Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP và các nội dung được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP.

Đặc biệt, tiền án, tái phạm, tình tiết tăng nặng, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ và khả năng tự cải tạo có thể ảnh hưởng trực tiếp đến việc có được áp dụng án treo hay không.

Nếu vụ án đang ở giai đoạn điều tra, truy tố hoặc xét xử, cần đánh giá dựa trên cáo trạng, điều khoản truy tố, mức độ tham gia, nhân thân và toàn bộ tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng, thay vì chỉ căn cứ vào giá trị tài sản. Đây là cơ sở để xác định chính xác khả năng hưởng án treo trong từng trường hợp.

☎️ Liên hệ luật sư Hotline/Telegram/Zalo: 0338 919 686 | 0969 566 766

Website: https://luatdungtrinh.vn|

Email:luatdungtrinh@gmail.com|

  • Tags

Tin liên quan

Trình tự, thủ tục khởi tố vụ án hình sự từ A–Z theo quy định mới nhất
Khởi tố vụ án hình sự là bước đầu tiên trong tố tụng nhằm xác định có hay không dấu hiệu tội phạm. Quy trình khởi tố vụ án hình sự bao gồm tiếp nhận tin báo, xác minh và ra quyết định theo luật định. Việc hiểu rõ điều kiện khởi tố, thời hạn xử lý giúp cá nhân, doanh nghiệp bảo vệ quyền lợi hợp pháp
Người dân có quyền tố cáo cán bộ công an không?
Người dân có quyền tố cáo cán bộ công an vi phạm pháp luật không? Phân tích Điều 32 BLTTHS 2015, thẩm quyền, thời hạn, thủ tục và bảo vệ người tố cáo.
Tố cáo cán bộ công an vi phạm pháp luật ở đâu?
Hướng dẫn tố cáo cán bộ công an vi phạm pháp luật đúng thẩm quyền: gửi ở đâu, cơ quan nào giải quyết, căn cứ pháp lý và bảo vệ người tố cáo theo luật.
Tư vấn tố giác tội phạm?
Theo quy định pháp luật, công dân có thể tố giác, tố cáo tội phạm tại bất kỳ cơ quan nhà nước nào, không bị giới hạn cứng nhắc về địa điểm tiếp nhận. Các cơ quan phổ biến gồm: Cơ quan Cảnh sát điều tra; Viện kiểm sát nhân dân;Tòa án nhân dân; Công an xã, phường, thị trấn; Các cơ quan, tổ chức nhà nước khác.
Mẫu đơn tố giác tội phạm mới nhất 2026?
Cập nhật mẫu đơn tố giác, tố cáo tội phạm mới nhất 2026: đánh người, lừa đảo, trộm cắp, vu khống, công an vi phạm. Luật sư Trịnh Văn Dũng tư vấn, hỗ trợ soạn đơn đúng luật.
Trường hợp được phép tạm giữ người?
Tạm giữ người là gì? Khi nào công an được tạm giữ người, thời hạn bao lâu, quyền của người bị tạm giữ và cách xử lý khi tạm giữ trái pháp luật. Luật sư phân tích chi tiết.
Hình fanpage
tvpl
Thông tin luật sư
Đoàn luật sư
Thành phố Hà Nội

Luật sư: TRỊNH VĂN DŨNG

Điện thoại: 0969566766

Zalo: 0338919686

Liên hệ Luật sư qua: youtube
Liên hệ Luật sư qua: tiktok
Liên hệ Luật sư qua: email
Khách hàng đặt câu hỏi tư vấn