Trịnh Văn Dũng
- 24/08/2026
- 22
Điều 341 BLHS đặt ra vướng mắc khi định tội hành vi làm giả và sử dụng tài liệu giả, nhất là trường hợp nhờ người khác làm giả rồi sử dụng hoặc trực tiếp làm giả rồi sử dụng. Việc xác định số lượng tài liệu giả cũng cần phân biệt tài liệu gốc với các bản sao được công chứng, chứng thực.
Vướng mắc áp dụng Điều 341 BLHS là những vấn đề phát sinh khi xác định tội danh, số lượng tài liệu giả và cách xử lý trách nhiệm hình sự đối với hành vi làm giả, sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức.
✅Phần 1. Mở đầu
Điều 341 Bộ luật Hình sự quy định hai tội danh độc lập liên quan đến con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức: tội làm giả và tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả. Trong thực tiễn xét xử, việc áp dụng điều luật này vẫn phát sinh nhiều vướng mắc, đặc biệt khi một người nhờ hoặc thuê người khác làm giả rồi sử dụng, hoặc trực tiếp làm giả tài liệu rồi tiếp tục sử dụng tài liệu đó. Một vấn đề khác là trường hợp một tài liệu giả được công chứng, chứng thực thành nhiều bản sao: các bản sao này có được tính vào số lượng tài liệu giả để định khung hình phạt hay không? Những tình huống trên đòi hỏi phải tách bạch hành vi, xác định đúng tội danh, số lượng tài liệu giả và cách tổng hợp hình phạt. Công văn 196/TANDTC-PC ngày 03/10/2023 của TAND tối cao là cơ sở quan trọng để giải đáp các vướng mắc này.
Theo Công văn 196/TANDTC-PC, hai tội danh tại Điều 341 BLHS là hai tội độc lập. Nếu một người thực hiện các hành vi đủ yếu tố cấu thành cả hai tội thì phải xác định trách nhiệm đối với từng tội và tổng hợp hình phạt theo quy định. Trường hợp chỉ nhờ hoặc thuê người khác làm giả rồi sử dụng tài liệu thì không mặc nhiên bị định tội làm giả nếu bản thân không thực hiện hành vi làm giả.
✅Phần 2. Điều 341 BLHS quy định hai tội danh nào?
2.1. Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức
Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức theo Điều 341 BLHS tập trung vào hành vi trực tiếp tạo ra con dấu hoặc tài liệu giả mang danh nghĩa của cơ quan, tổ chức để thực hiện hành vi trái pháp luật. Đối tượng tác động có thể là con dấu hoặc tài liệu của cơ quan, tổ chức. Điểm cần phân biệt là “làm giả” phản ánh hành vi tạo ra hoặc biến đổi tài liệu thành giả, còn “sử dụng” là hành vi đưa tài liệu đã giả vào thực tế để thực hiện mục đích trái pháp luật. Vì vậy, khi định tội cần xác định cụ thể ai thực hiện hành vi tạo ra tài liệu giả, thay vì chỉ căn cứ vào việc tài liệu giả cuối cùng được sử dụng.
2.2. Tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
Tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức theo Điều 341 BLHS được xác định khi người phạm tội biết tài liệu là giả nhưng vẫn sử dụng nhằm thực hiện hành vi trái pháp luật. Tài liệu được sử dụng có thể do chính người đó làm giả hoặc do người khác tạo ra. Vì vậy, khi định tội hành vi làm giả và sử dụng tài liệu giả, cần tách biệt người trực tiếp tạo ra tài liệu với người thực hiện hành vi sử dụng và xem xét đầy đủ mục đích, nhận thức của từng người.
2.3. Vì sao phải tách hai hành vi khi định tội?
“Làm giả” và “sử dụng” là hai hành vi cần được đánh giá độc lập, không thể gộp cơ học chỉ vì cùng được quy định tại Điều 341 BLHS. Theo Công văn 196/TANDTC-PC ngày 03/10/2023, đây là hai tội danh độc lập; nếu hành vi đồng thời đủ yếu tố cấu thành cả hai tội thì phải xem xét trách nhiệm hình sự đối với từng tội danh.
Để hiểu đầy đủ về phạm vi điều chỉnh, dấu hiệu pháp lý và trách nhiệm hình sự đối với hành vi làm giả hoặc sử dụng con dấu, tài liệu giả, có thể xem thêm bài “Tội làm giả, sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan nhà nước là như thế nào?”. Nội dung này phù hợp để tham khảo phần khái quát, trong khi bài viết hiện tại tập trung sâu vào các vướng mắc khi định tội và xác định số lượng tài liệu giả.
✅Phần 3. Công văn 196/TANDTC-PC giải quyết những vướng mắc nào về Điều 341?
3.1. Nội dung Công văn 196/TANDTC-PC ngày 03/10/2023
Công văn số 196/TANDTC-PC ngày 03/10/2023 do Tòa án nhân dân tối cao ban hành, thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc trong công tác xét xử. Đối với Điều 341 BLHS, nội dung giải đáp có ý nghĩa tham khảo quan trọng khi định tội hành vi làm giả và sử dụng tài liệu giả, đặc biệt ở trường hợp nhờ hoặc thuê người khác làm giả rồi sử dụng. Công văn cũng làm rõ cách tiếp cận đối với hai tội danh độc lập được quy định tại Điều 341.
3.2. Quan điểm về hai tội danh độc lập
Có phải Điều 341 BLHS chỉ quy định một tội với hai dạng hành vi là làm giả và sử dụng con dấu, tài liệu giả? Theo hướng giải đáp tại Công văn 196/TANDTC-PC ngày 03/10/2023, câu trả lời là không. Hai hành vi này tương ứng với hai tội danh độc lập. Vì vậy, khi hành vi của bị cáo đồng thời đủ yếu tố cấu thành cả tội làm giả và tội sử dụng tài liệu giả, phải xem xét trách nhiệm hình sự đối với từng tội danh thay vì gộp thành một tội.
3.3. Ý nghĩa của Công văn đối với định tội thực tế
Công văn 196/TANDTC-PC có ý nghĩa tham khảo quan trọng trong việc định tội hành vi làm giả và sử dụng tài liệu giả theo Điều 341 BLHS. Khi giải quyết vụ án, cần xác định cụ thể hành vi nào, đối chiếu với yếu tố cấu thành nào, từ đó xác định tội danh tương ứng và quyết định hình phạt tương ứng. Cách tiếp cận này giúp tránh việc đồng nhất hành vi làm giả với sử dụng tài liệu giả hoặc suy đoán trách nhiệm hình sự chỉ từ một hành vi. Đây cũng là nguyên tắc xuyên suốt để phân tích các vướng mắc về định tội và số lượng tài liệu giả trong bài viết.
✅Phần 4. Nhờ người khác làm giả tài liệu rồi sử dụng phạm tội gì?
4.1. Người không trực tiếp làm giả nhưng nhờ hoặc thuê người khác thực hiện
Trường hợp một người nhờ hoặc thuê người khác làm giả tài liệu, sau đó nhận tài liệu và trực tiếp sử dụng để thực hiện hành vi trái pháp luật, cần tách riêng hành vi của người nhờ thuê với hành vi của người trực tiếp làm giả. Theo Công văn số 196/TANDTC-PC ngày 03/10/2023, nếu người này không trực tiếp làm giả mà chỉ nhờ hoặc thuê người khác thực hiện rồi sử dụng tài liệu giả, thì khi đủ yếu tố cấu thành, trách nhiệm hình sự được xem xét về tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức, không mặc nhiên xử lý về tội làm giả chỉ vì đã có hành vi nhờ hoặc thuê.
Cần phân biệt: “nhờ hoặc thuê người khác làm giả” không đồng nghĩa với “trực tiếp tham gia làm giả”. Nếu người nhờ còn có hành vi tham gia cụ thể vào quá trình tạo ra tài liệu giả, vai trò và trách nhiệm hình sự phải được đánh giá trên toàn bộ hành vi, ý chí và mức độ tham gia
4.2. Vì sao không mặc nhiên xử lý về tội làm giả?
Theo hướng giải đáp tại Công văn số 196/TANDTC-PC ngày 03/10/2023, trường hợp bị cáo không trực tiếp làm giả mà chỉ nhờ hoặc thuê người khác làm giả tài liệu, sau đó chính mình sử dụng tài liệu đó để thực hiện hành vi trái pháp luật, thì không mặc nhiên bị xử lý về tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức. Nếu hành vi sử dụng đáp ứng đầy đủ các yếu tố cấu thành, người này được xem xét trách nhiệm hình sự về tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức. Việc định tội phải căn cứ vào hành vi thực tế và vai trò của từng người, không chỉ dựa vào việc họ có yêu cầu người khác tạo ra tài liệu giả.
4.3. Khi nào hành vi của người nhờ có thể phát sinh vấn đề đồng phạm?
Việc nhờ người khác làm giả tài liệu không đương nhiên đồng nghĩa người nhờ là đồng phạm về tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức. Cần đánh giá cụ thể mức độ tham gia và ý chí cùng thực hiện hành vi phạm tội của từng người. Nếu người nhờ chỉ yêu cầu người khác thực hiện, cần phân biệt với trường hợp chủ động cung cấp phương tiện, thông tin, chỉ đạo cách thức, thống nhất kế hoạch hoặc trực tiếp tham gia quá trình làm giả. Để xác định đồng phạm, không thể chỉ dựa vào việc người đó “thuê” hoặc trả tiền cho người khác. Trách nhiệm hình sự phải được xác định trên cơ sở hành vi, vai trò và sự cố ý của từng người trong vụ án.
4.4. Ví dụ định tội A – B
A có nhu cầu sử dụng giấy đi đường giả nên nhờ B trực tiếp làm giả tài liệu này. B thực hiện việc tạo giấy giả và giao cho A. Sau đó, A sử dụng giấy đi đường giả để thực hiện hành vi trái pháp luật. Theo hướng giải đáp tại Công văn 196/TANDTC-PC, cần đánh giá độc lập hành vi của A và B; việc A nhờ B làm giả không đồng nghĩa A là người trực tiếp thực hiện hành vi làm giả. Nếu A đủ yếu tố cấu thành tội sử dụng, trách nhiệm của A được xác định theo hành vi sử dụng; B được xem xét về hành vi làm giả.
| Người | Hành vi | Hướng định tội |
|---|---|---|
| A | Nhờ B làm giả, sau đó sử dụng giấy giả | Tội sử dụng nếu đủ yếu tố cấu thành |
| B | Trực tiếp tạo giấy đi đường giả | Tội làm giả nếu đủ yếu tố cấu thành |
Lưu ý: Việc xác định trách nhiệm hình sự cuối cùng vẫn phải căn cứ vào hành vi thực tế, vai trò của từng người và các yếu tố cấu thành tội phạm.
✅Phần 5. Làm giả một tài liệu, công chứng nhiều bản sao có bị tính nhiều tài liệu giả?
5.1. Thế nào là “số lượng tài liệu giả” khi áp dụng Điều 341?
Khi áp dụng Điều 341 BLHS, số lượng tài liệu giả là căn cứ quan trọng để xác định mức độ trách nhiệm hình sự trong những trường hợp luật định. Vì vậy, cần phân biệt tài liệu gốc bị làm giả với các bản sao được công chứng, chứng thực, tránh cộng cơ học số bản sao vào số lượng tài liệu giả
5.2. Một tài liệu giả được công chứng, chứng thực thành nhiều bản sao
Trường hợp một tài liệu giả được đem đi công chứng, chứng thực thành nhiều bản sao đặt ra vấn đề: số bản sao này có được cộng vào số lượng tài liệu giả để xác định trách nhiệm hình sự theo Điều 341 BLHS hay không. Theo hướng giải đáp của Tòa án nhân dân tối cao, cần phân biệt tài liệu gốc bị làm giả với các bản sao được công chứng, chứng thực từ tài liệu đó. Công văn 250/TANDTC-PC năm 2026 tiếp tục ghi nhận cách xử lý này khi dẫn lại nội dung đã được hướng dẫn tại Công văn 196/TANDTC-PC năm 2023.
Theo đó, nếu người phạm tội làm giả 01 tài liệu, sau đó công chứng, chứng thực thành 5 hoặc 10 bản sao thì các bản sao này không được tính là số lượng tài liệu giả để xác định tình tiết định khung tại điểm c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 341 BLHS. Nói cách khác, không thể lấy số bản sao để cộng cơ học thành 5 hoặc 10 tài liệu giả. Tuy nhiên, nếu người đó tiếp tục sử dụng các bản sao để thực hiện hành vi trái pháp luật và đủ yếu tố cấu thành, hành vi sử dụng vẫn có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự về tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức.
Ví dụ: A làm giả 01 giấy tờ, sau đó chứng thực thành 10 bản sao. Về số lượng tài liệu giả để định khung tội làm giả, không mặc nhiên xác định A đã làm giả 10 tài liệu. Nếu A sử dụng các bản sao này vào giao dịch trái pháp luật, cần tiếp tục đánh giá độc lập hành vi sử dụng theo Điều 341 BLHS.
5.3. Các bản sao có được tính vào số lượng tài liệu giả để định khung?
Không. Trường hợp bị cáo trực tiếp làm giả 01 tài liệu rồi đem công chứng, chứng thực thành nhiều bản sao, các bản sao đã được công chứng, chứng thực không được tính vào số lượng tài liệu giả để xác định trách nhiệm hình sự về tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức theo điểm c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 341 BLHS.
Cách xác định này được nêu trong nội dung giải đáp của Công văn 196/TANDTC-PC ngày 03/10/2023 và tiếp tục được TANDTC nhắc lại trong Công văn 250/TANDTC-PC năm 2026. Do đó, nếu làm giả một tài liệu công chứng nhiều bản sao, không thể lấy số bản sao để cộng cơ học thành nhiều tài liệu giả nhằm định khung hình phạt.
Tuy nhiên, cần tách riêng số lượng tài liệu giả với hành vi sử dụng tài liệu giả. Nếu người phạm tội sử dụng các bản sao đã công chứng, chứng thực để thực hiện hành vi trái pháp luật và đủ yếu tố cấu thành, hành vi này vẫn có thể bị truy cứu về tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức.
5.4. Nếu sử dụng các bản sao để thực hiện hành vi trái pháp luật thì sao?
Việc các bản sao được công chứng, chứng thực không được tính thành nhiều tài liệu giả để xác định số lượng theo Điều 341 BLHS không đồng nghĩa với việc người sử dụng các bản sao đó đương nhiên không phải chịu trách nhiệm hình sự. Cần tách riêng hành vi làm giả và hành vi sử dụng tài liệu giả. Nếu người thực hiện biết rõ bản sao có nguồn gốc từ tài liệu giả và sử dụng để thực hiện hành vi trái pháp luật, đồng thời đáp ứng đầy đủ các dấu hiệu cấu thành, vẫn có thể bị truy cứu về tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức. Đây cũng phù hợp với nguyên tắc hai tội danh tại Điều 341 được xem xét độc lập.
5.5. Ví dụ tính số lượng tài liệu giả
Ví dụ, A làm giả 01 tài liệu, sau đó dùng tài liệu này để công chứng thành 20 bản sao. Không mặc nhiên xác định A đã làm giả 21 tài liệu để tính số lượng theo Điều 341. 01 tài liệu gốc giả là cơ sở xác định hành vi làm giả; việc sử dụng các bản sao phải được đánh giá riêng theo hành vi và dấu hiệu cấu thành của tội sử dụng tài liệu giả.
✅Phần 6. Làm giả tài liệu rồi sử dụng có bị xử lý hai tội?
Làm giả tài liệu rồi sử dụng có bị xử lý hai tội hay không phải được xác định trên cơ sở tách biệt từng hành vi và đối chiếu với dấu hiệu cấu thành của từng tội danh tại Điều 341 BLHS. Việc cùng một tài liệu vừa được làm giả vừa được sử dụng không đồng nghĩa đương nhiên chỉ xử lý một tội, cũng không có nghĩa mọi trường hợp đều mặc nhiên bị xử lý hai tội.
6.1. Trường hợp trực tiếp làm giả rồi sử dụng chính tài liệu đó
Trường hợp một người trực tiếp làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức, sau đó tiếp tục sử dụng chính tài liệu giả đó để thực hiện hành vi trái pháp luật, cần tách riêng hai hành vi để đánh giá. Hành vi thứ nhất là tạo ra tài liệu giả; hành vi thứ hai là đưa tài liệu giả vào sử dụng.
Theo Công văn 196/TANDTC-PC ngày 03/10/2023, tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức và tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức là hai tội danh độc lập. Vì vậy, không thể chỉ dựa vào việc cùng liên quan đến một tài liệu để gộp hai hành vi thành một. Nếu từng hành vi đủ yếu tố cấu thành tội phạm tương ứng, người thực hiện có thể bị truy cứu về cả hai tội và hình phạt được xác định, tổng hợp theo quy định pháp luật.
6.2. Khi nào đủ căn cứ xử lý về cả hai tội danh?
Để xử lý một người về cả tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức và tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức, cần xác định độc lập từng hành vi. Trước hết, người đó phải có hành vi làm giả tài liệu; đồng thời có hành vi sử dụng tài liệu giả để thực hiện hành vi trái pháp luật. Quan trọng, mỗi hành vi phải đáp ứng đầy đủ các dấu hiệu cấu thành của tội danh tương ứng. Theo Công văn 196/TANDTC-PC ngày 03/10/2023, nếu hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành cả hai tội thì phải truy cứu trách nhiệm hình sự về hai tội danh độc lập, không gộp hai hành vi thành một tội.
6.3. Có phải cứ làm giả rồi sử dụng là luôn bị xử lý hai tội?
Không phải cứ trực tiếp làm giả rồi sử dụng tài liệu giả là mặc nhiên bị xử lý về cả hai tội danh. Khi định tội, cần tách riêng hành vi làm giả và hành vi sử dụng, đồng thời đối chiếu từng hành vi với các dấu hiệu cấu thành tương ứng của Điều 341 BLHS. Chỉ khi cả hai hành vi đều đủ yếu tố cấu thành hai tội danh độc lập thì mới đặt ra việc truy cứu trách nhiệm hình sự về cả hai tội và tổng hợp hình phạt theo quy định.
6.4. Bảng phân biệt 4 tình huống
Không phải mọi trường hợp làm giả tài liệu rồi sử dụng đều mặc nhiên bị xử lý về hai tội. Cần định tội hành vi làm giả và sử dụng tài liệu giả độc lập, xác định người thực hiện có trực tiếp làm giả hay không và từng hành vi có đủ yếu tố cấu thành tội phạm tương ứng hay không. Theo Công văn 196/TANDTC-PC, hai tội danh tại Điều 341 BLHS là độc lập; nếu đủ yếu tố cấu thành cả hai thì bị xử lý về từng tội và sau đó tổng hợp hình phạt.
Bảng phân biệt 4 tình huống
| Tình huống | Làm giả | Sử dụng | Hướng xử lý |
|---|---|---|---|
| Chỉ trực tiếp làm giả | Có | Không | Tội làm giả nếu đủ yếu tố cấu thành |
| Nhờ người khác làm giả rồi sử dụng | Không trực tiếp | Có | Tội sử dụng nếu đủ yếu tố cấu thành |
| Trực tiếp làm giả và sau đó sử dụng | Có | Có | Xem xét cả hai tội nếu từng hành vi đủ yếu tố cấu thành |
| Chỉ nhận tài liệu và sử dụng | Không | Có | Tội sử dụng nếu đủ yếu tố cấu thành |
Lưu ý: “Nhờ người khác làm giả” không đồng nghĩa với “trực tiếp làm giả”. Việc xác định trách nhiệm hình sự phải căn cứ vào vai trò, hành vi cụ thể và các yếu tố cấu thành của từng tội, tránh chỉ dựa vào việc người đó có liên quan đến quá trình tạo ra tài liệu giả.
✅Phần 7. Nếu phạm cả hai tội thì áp dụng hình phạt thế nào?
7.1. Có áp dụng một hình phạt chung ngay từ đầu không?
Không áp dụng ngay một hình phạt chung cho cả hành vi làm giả và sử dụng tài liệu giả. Theo hướng giải đáp tại Công văn 196/TANDTC-PC ngày 03/10/2023, hai hành vi này có thể cấu thành hai tội danh độc lập theo Điều 341 BLHS. Vì vậy, khi có đủ căn cứ xác định bị cáo phạm cả hai tội, Tòa án phải xem xét, quyết định hình phạt đối với từng tội danh trước khi thực hiện bước tổng hợp hình phạt theo quy định.
7.2. Quyết định hình phạt đối với từng tội danh
Trường hợp hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành cả tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức và tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức, việc xử lý không dừng ở một hình phạt duy nhất cho cả hai hành vi. Theo Công văn 196/TANDTC-PC, Tòa án quyết định hình phạt đối với mỗi tội danh, sau đó mới tổng hợp hình phạt theo quy định của Bộ luật Hình sự. Cách xử lý này bảo đảm việc định tội và lượng hình phản ánh đầy đủ từng hành vi phạm tội.
7.3. Sau đó tổng hợp hình phạt theo quy định
Trường hợp bị cáo được xác định phạm nhiều tội, Tòa án không gộp ngay các hành vi thành một mức án duy nhất mà phải quyết định hình phạt đối với từng tội, sau đó thực hiện việc tổng hợp theo Điều 55 BLHS. Vì vậy, nếu hành vi làm giả và hành vi sử dụng tài liệu giả đều đủ yếu tố cấu thành hai tội độc lập, cần xác định hình phạt riêng cho từng tội trước khi xác định hình phạt chung theo quy định về tổng hợp hình phạt.
7.4. Ví dụ minh họa cách hiểu
Ví dụ, A trực tiếp làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức rồi sử dụng tài liệu đó để thực hiện hành vi trái pháp luật và Tòa án xác định đủ căn cứ cấu thành cả hai tội. Tòa án trước hết quyết định hình phạt đối với tội làm giả và tội sử dụng, sau đó tổng hợp hình phạt theo quy định của Bộ luật Hình sự.
✅Phần 8. Những điểm cần lưu ý khi định tội theo Điều 341 BLHS
8.1. Không đánh đồng người làm giả với người sử dụng
Khi định tội theo Điều 341 BLHS, cần tách biệt hành vi làm giả và hành vi sử dụng con dấu, tài liệu giả để xác định đúng trách nhiệm của từng người. Người trực tiếp tạo ra tài liệu giả không mặc nhiên có cùng trách nhiệm với người chỉ sử dụng tài liệu giả. Trường hợp một người nhờ hoặc thuê người khác thực hiện cần tiếp tục xem xét vai trò, mức độ tham gia và các yếu tố cấu thành của từng tội danh.
8.2. Không lấy số bản sao công chứng để cộng cơ học vào số tài liệu giả
Trường hợp làm giả một tài liệu rồi công chứng, chứng thực thành nhiều bản sao, không nên lấy tổng số bản sao để mặc nhiên xác định số lượng tài liệu giả. Cần phân biệt tài liệu được làm giả ban đầu với các bản sao được công chứng, chứng thực. Việc xác định số lượng phải căn cứ đúng bản chất hành vi và hướng dẫn áp dụng Điều 341, tránh cộng cơ học làm thay đổi căn cứ định khung hình phạt.
8.4. Không mặc nhiên coi “nhờ người khác làm giả” là trực tiếp làm giả
Người không trực tiếp thực hiện việc tạo ra tài liệu giả nhưng nhờ hoặc thuê người khác làm giả rồi sử dụng tài liệu đó không mặc nhiên bị xác định là người thực hiện hành vi làm giả. Theo Công văn số 196/TANDTC-PC ngày 03/10/2023, nếu người này chỉ nhờ hoặc thuê người khác làm giả, sau đó sử dụng để thực hiện hành vi trái pháp luật và đủ yếu tố cấu thành thì được xem xét về tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức, không xử lý về tội làm giả chỉ vì đã có hành vi nhờ hoặc thuê người khác.
8.5. Không mặc nhiên coi mọi trường hợp làm giả rồi sử dụng đều giống nhau
Khi định tội đối với trường hợp vừa có hành vi làm giả vừa có hành vi sử dụng, cần tách biệt từng hành vi và đánh giá độc lập. Cơ quan tiến hành tố tụng cần xem xét người thực hiện, hành vi cụ thể, thời điểm thực hiện, mục đích, các yếu tố cấu thành của từng tội và loại tài liệu được làm giả hoặc sử dụng. Không nên chỉ dựa vào việc cùng một tài liệu được làm giả rồi sử dụng để mặc nhiên kết luận trách nhiệm hình sự giống nhau trong mọi trường hợp.
✅Phần 9. Những sai sót dễ dẫn đến định tội chưa chính xác
9.1. Chỉ nhìn vào tài liệu cuối cùng mà không tách hành vi
Khi giải quyết vụ án, không nên chỉ căn cứ vào tài liệu giả cuối cùng được thu giữ mà phải làm rõ ai thực hiện hành vi làm giả, ai sử dụng và mỗi người thực hiện hành vi nào. Việc không tách riêng các hành vi có thể dẫn đến nhầm lẫn giữa tội làm giả và tội sử dụng tài liệu giả theo Điều 341 BLHS.
9.2 Đếm bản sao công chứng như tài liệu giả độc lập
Một tài liệu giả được công chứng, chứng thực thành nhiều bản sao không đồng nghĩa với việc có thêm từng ấy tài liệu giả để tính số lượng khi định khung hình phạt. Cần phân biệt tài liệu được làm giả với các bản sao được công chứng, chứng thực; không nên cộng số bản sao một cách cơ học vào số lượng tài liệu giả.
9.3. Nhầm giữa người nhờ làm giả và người trực tiếp làm giả
Người nhờ hoặc thuê người khác làm giả tài liệu không mặc nhiên được xác định là người trực tiếp thực hiện hành vi làm giả. Cần làm rõ vai trò, mức độ tham gia và hành vi cụ thể của từng người. Trường hợp chỉ nhờ người khác làm giả rồi sử dụng, việc định tội cần được xem xét theo hướng dẫn tại Công văn 196/TANDTC-PC ngày 03/10/2023.
9.4. Gộp hai tội danh thành một vì cùng nằm tại Điều 341
Một sai sót khác là cho rằng hành vi làm giả và sử dụng tài liệu giả chỉ bị xử lý về một tội vì cùng được quy định tại Điều 341 BLHS. Theo hướng dẫn tại Công văn 196/TANDTC-PC, tội làm giả và tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả là hai tội danh độc lập. Nếu hành vi đủ yếu tố cấu thành cả hai tội thì phải xem xét trách nhiệm hình sự đối với từng tội và tổng hợp hình phạt theo quy định.
✅Phần 10. Tình huống thực tiễn và cách định tội theo từng trường hợp
10.1. Tình huống 1: A thuê B làm giả, A sử dụng tài liệu
A không trực tiếp làm giả giấy tờ mà thuê B thực hiện, sau đó nhận tài liệu giả và sử dụng để thực hiện hành vi trái pháp luật. Theo hướng giải đáp tại Công văn số 196/TANDTC-PC ngày 03/10/2023, nếu hành vi của A đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì A bị xem xét về tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức, không xử lý về tội làm giả chỉ vì A là người thuê B thực hiện.
10.2. Tình huống 2: A trực tiếp làm giả rồi sử dụng
A trực tiếp tạo ra một tài liệu giả của cơ quan, tổ chức, sau đó sử dụng chính tài liệu này để thực hiện hành vi trái pháp luật. Trường hợp này cần tách riêng hai hành vi: làm giả và sử dụng tài liệu giả. Nếu cả hai hành vi đều đủ yếu tố cấu thành tương ứng thì A có thể bị truy cứu về hai tội danh độc lập theo Điều 341 BLHS; hình phạt được quyết định đối với từng tội rồi tổng hợp theo quy định.
10.3. Tình huống 3: A làm giả 1 bản rồi chứng thực 10 bản sao
A chỉ trực tiếp làm giả 01 tài liệu, sau đó thực hiện công chứng, chứng thực thành 10 bản sao. Việc có thêm các bản sao công chứng, chứng thực không đồng nghĩa A đã làm giả thêm 10 tài liệu. Theo hướng giải đáp được công bố, các bản sao này không được tính vào số lượng tài liệu giả để xác định trách nhiệm theo điểm c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 341 BLHS.
10.4. Tình huống 4: A sử dụng các bản sao vào nhiều giao dịch
A sử dụng các bản sao của tài liệu giả trong nhiều giao dịch khác nhau. Cần phân biệt số lượng tài liệu được làm giả với số lần hoặc cách thức sử dụng tài liệu. Việc sử dụng nhiều bản sao hoặc sử dụng trong nhiều giao dịch không tự động làm tăng số lượng tài liệu giả đã được làm giả; trách nhiệm về hành vi sử dụng phải được đánh giá độc lập trên cơ sở các yếu tố cấu thành tội phạm.
Trường hợp tài liệu giả được sử dụng để thực hiện giao dịch, chuyển nhượng hoặc hợp thức hóa giấy tờ liên quan đến quyền sử dụng đất cần được xem xét theo tính chất cụ thể của hành vi. Nếu cần phân tích riêng trường hợp làm giả giấy tờ mua bán đất và xác định tội danh có thể phát sinh, có thể tham khảo bài “Làm giả giấy tờ mua bán đất phạm tội gì?”.
✅Phần 11. Các câu hỏi thường gặp
❓ Nhờ người khác làm giả tài liệu rồi sử dụng phạm tội gì?
Nếu người sử dụng không trực tiếp làm giả mà chỉ nhờ hoặc thuê người khác làm giả tài liệu, sau đó sử dụng tài liệu giả để thực hiện hành vi trái pháp luật, thì theo hướng giải đáp tại Công văn 196/TANDTC-PC, người này bị xem xét về Tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức nếu đủ yếu tố cấu thành, mà không mặc nhiên bị xử lý về Tội làm giả con dấu, tài liệu.
❓ Làm giả một tài liệu rồi công chứng nhiều bản sao có bị tính nhiều tài liệu giả không?
Không. Trường hợp trực tiếp làm giả 01 tài liệu, sau đó công chứng hoặc chứng thực thành nhiều bản sao thì các bản sao được công chứng, chứng thực không được tính thành nhiều tài liệu giả để xác định số lượng tài liệu làm giả theo điểm c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 341 BLHS. Việc sử dụng các bản sao vẫn phải được đánh giá riêng nếu có hành vi sử dụng nhằm thực hiện hành vi trái pháp luật.
❓ Làm giả tài liệu rồi sử dụng có bị xử lý hai tội không?
Có thể. Điều 341 BLHS quy định Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức và Tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức là hai tội danh độc lập. Vì vậy, nếu người thực hiện vừa có hành vi làm giả, vừa sử dụng tài liệu giả và cả hai hành vi đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm, thì có thể bị truy tố, xét xử về hai tội danh độc lập.
❓ Các bản sao công chứng có được tính vào số lượng tài liệu giả không?
Không, nếu đó là các bản sao được công chứng, chứng thực từ một tài liệu giả đã được làm ra. Theo nội dung giải đáp được TANDTC nhắc lại, các bản sao này không được cộng vào số lượng tài liệu giả để truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi làm giả theo các điểm c khoản 2 và a khoản 3 Điều 341 BLHS. Tuy nhiên, nếu tiếp tục sử dụng bản sao để thực hiện hành vi trái pháp luật thì phải xem xét trách nhiệm về hành vi sử dụng nếu đủ cấu thành.
❓ Hai tội tại Điều 341 có được tổng hợp hình phạt không?
Có. Khi hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành cả Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức và Tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức, Tòa án phải xác định hai tội danh độc lập, quyết định hình phạt đối với từng tội, sau đó thực hiện tổng hợp hình phạt theo quy định của pháp luật hình sự. Đây là hướng giải đáp được nêu tại Công văn 196/TANDTC-PC.
✅Phần 12. Kết luận
Việc định tội theo Điều 341 BLHS cần dựa trên từng hành vi cụ thể và đầy đủ yếu tố cấu thành tội phạm, không đồng nhất hành vi làm giả với hành vi sử dụng tài liệu giả. Trường hợp một người thực hiện cả hai hành vi, cần xem xét độc lập trách nhiệm đối với từng tội danh trước khi quyết định hình phạt.
Công văn số 196/TANDTC-PC ngày 03/10/2023 là căn cứ tham khảo quan trọng khi giải quyết hai nhóm vướng mắc: trường hợp nhờ hoặc thuê người khác làm giả rồi sử dụng và trường hợp làm giả tài liệu rồi tiếp tục sử dụng. Nội dung giải đáp giúp định hướng việc xác định tội danh và xử lý trách nhiệm hình sự.
Do đó, cần tách bạch hành vi làm giả, hành vi sử dụng và số lượng tài liệu giả, đặc biệt khi tài liệu gốc được sao chụp, công chứng hoặc sử dụng nhiều lần.
Nếu vụ việc có nhiều người tham gia, tài liệu gốc/bản sao và nhiều lần sử dụng, cần rà soát hồ sơ cụ thể để xác định đúng phạm vi trách nhiệm hình sự.
☎️ Liên hệ luật sư Hotline/Telegram/Zalo: 0338 919 686 | 0969 566 766
Website: https://luatdungtrinh.vn|
Email:luatdungtrinh@gmail.com|
- Tags