Pháp nhân thương mại không bị truy cứu trách nhiệm hình sự trực tiếp về tội vi phạm quy định về an toàn thực phẩm theo Điều 317 BLHS, vì Điều 317 không thuộc danh mục tội áp dụng trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại. Tuy nhiên, cá nhân trong doanh nghiệp vẫn có thể bị truy cứu nếu hành vi đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm.

✅Phần 1. Mở đầu

Pháp nhân thương mại không bị truy cứu trách nhiệm hình sự trực tiếp về tội vi phạm quy định về an toàn thực phẩm theo Điều 317 BLHS. Khi đánh giá trách nhiệm của doanh nghiệp, không thể chỉ xem xét 4 điều kiện tại Điều 75 BLHS mà phải xác định trước tội danh đó có thuộc phạm vi trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại theo Điều 76 hay không. Hiện nay, Điều 317 không nằm trong danh mục tội phạm áp dụng trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại. Vì vậy, dù hành vi vi phạm xảy ra trong hoạt động của doanh nghiệp, pháp nhân thương mại không trở thành chủ thể bị truy cứu trực tiếp theo Điều 317. Tuy nhiên, cá nhân trong doanh nghiệp như người trực tiếp thực hiện hoặc có vai trò liên quan vẫn có thể bị truy cứu nếu hành vi đáp ứng đầy đủ dấu hiệu của tội phạm.

  • Không: Pháp nhân thương mại không bị truy cứu trực tiếp về tội quy định tại Điều 317 BLHS.
  • Căn cứ: Điều 317 không thuộc phạm vi tội danh mà pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự.
  • Cá nhân vẫn có thể bị truy cứu: Người trực tiếp thực hiện hoặc có vai trò liên quan có thể chịu trách nhiệm nếu đủ dấu hiệu của tội phạm.
  • Doanh nghiệp vẫn có thể bị xử lý: Không bị truy cứu theo Điều 317 không đồng nghĩa doanh nghiệp được miễn mọi trách nhiệm pháp lý về vi phạm an toàn thực phẩm.
  • Cần phân biệt: Trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại, trách nhiệm hình sự của cá nhân và xử lý hành chính là các vấn đề khác nhau.

Luật An toàn thực phẩm cũng xác định tổ chức, cá nhân vi phạm có thể bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự tùy tính chất, mức độ và căn cứ pháp luật áp dụng.

Để hiểu đầy đủ dấu hiệu, hành vi và các khung xử lý của tội danh này, có thể xem thêm bài tội vi phạm quy định về an toàn thực phẩm theo Điều 317 BLHS.


✅Phần 2. Pháp nhân thương mại có bị truy cứu về tội vi phạm quy định về an toàn thực phẩm?

Trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại theo Điều 317 cần được phân biệt với trách nhiệm hình sự của cá nhân trong doanh nghiệp. Theo quy định hiện hành, pháp nhân thương mại không phải là chủ thể bị truy cứu trực tiếp về tội quy định tại Điều 317 BLHS. Việc xác định trách nhiệm phải đối chiếu đồng thời quy định về chủ thể và phạm vi các tội danh áp dụng đối với pháp nhân thương mại.

2.1 Câu trả lời ngắn: Không truy cứu pháp nhân thương mại trực tiếp theo Điều 317

Không. Pháp nhân thương mại không bị truy cứu trách nhiệm hình sự trực tiếp về tội vi phạm quy định về an toàn thực phẩm theo Điều 317 BLHS. Điều 317 sử dụng chủ thể “người nào” thực hiện hành vi vi phạm quy định về an toàn thực phẩm, trong khi Điều 76 BLHS quy định riêng phạm vi các tội mà pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự. Điều 317 không thuộc phạm vi này. Vì vậy, không thể chỉ căn cứ vào các điều kiện tại Điều 75 để kết luận doanh nghiệp bị truy cứu theo Điều 317.

Điểm cần lưu ý là không truy cứu pháp nhân thương mại theo Điều 317 không đồng nghĩa doanh nghiệp được miễn mọi trách nhiệm pháp lý. Luật An toàn thực phẩm vẫn quy định tổ chức, cá nhân vi phạm có thể bị xử lý hành chính, truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc phải bồi thường, khắc phục hậu quả tùy trường hợp.

Căn cứ pháp lý: Điều 75, Điều 76 và Điều 317 Bộ luật Hình sự; Luật An toàn thực phẩm. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2025 có hiệu lực từ ngày 01/07/2025.

"Điều 75. Điều kiện chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại

1. Pháp nhân thương mại chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại;

b) Hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân thương mại;

c) Hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại;

d) Chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 27 của Bộ luật này.

2. Việc pháp nhân thương mại chịu trách nhiệm hình sự không loại trừ trách nhiệm hình sự của cá nhân.

Điều 76. Phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại

Pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm quy định tại một trong các điều 188, 189, 190, 191, 192, 193, 194, 195, 196, 200, 203, 209, 210, 211, 213, 216, 217, 225, 226, 227, 232, 234, 235, 237, 238, 239, 242, 243, 244, 245, 246, 300 và 324 của Bộ luật này.

2.2. Vì sao doanh nghiệp vi phạm an toàn thực phẩm vẫn có thể phát sinh trách nhiệm pháp lý?

Việc doanh nghiệp vi phạm an toàn thực phẩm không đồng nghĩa doanh nghiệp đương nhiên bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 317 BLHS. Cần tách bạch bốn lớp trách nhiệm: pháp nhân thương mại có thể chịu trách nhiệm hình sự chỉ trong phạm vi luật định; cá nhân trong doanh nghiệp vẫn có thể bị truy cứu nếu hành vi đủ dấu hiệu tội phạm; tổ chức có thể bị xử phạt hành chính; và nếu gây thiệt hại, doanh nghiệp hoặc cá nhân liên quan còn có thể phát sinh trách nhiệm dân sự. Vì vậy, “không bị truy cứu theo Điều 317” không có nghĩa “không bị xử lý”.

2.3.Trường hợp nào cần xem xét trách nhiệm hình sự của cá nhân trong doanh nghiệp?

Khi doanh nghiệp có vi phạm liên quan đến an toàn thực phẩm, cần xác định cụ thể cá nhân nào thực hiện hoặc có vai trò trong hành vi vi phạm, thay vì mặc nhiên quy trách nhiệm cho người đại diện theo pháp luật. Có thể cần xem xét người trực tiếp thực hiện; người quản lý, chỉ đạo hoặc quyết định việc sử dụng nguyên liệu, hóa chất, chất cấm; người biết rõ vi phạm nhưng vẫn thực hiện hoặc cho phép thực hiện. Nếu hành vi của cá nhân đáp ứng các dấu hiệu của Điều 317 BLHS thì có thể phát sinh trách nhiệm hình sự. Việc xác định cụ thể các dấu hiệu này được phân tích tại bài về Yếu tố cấu thành tội vi phạm quy định về an toàn thực phẩm.


✅Phần 3. Điều 76 BLHS quyết định phạm vi trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại như thế nào?

3.1. Phân biệt Điều 75 và Điều 76 BLHS

Khi xem xét trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại, cần phân biệt rõ vai trò của Điều 75 và Điều 76 BLHS. Điều 75 quy định các điều kiện để pháp nhân thương mại chịu trách nhiệm hình sự, như hành vi được thực hiện nhân danh pháp nhân, vì lợi ích của pháp nhân và có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân. Trong khi đó, Điều 76 xác định phạm vi các tội danh mà pháp nhân thương mại có thể phải chịu trách nhiệm hình sự.

Vì vậy, không thể suy luận rằng chỉ cần đáp ứng đủ điều kiện tại Điều 75 thì pháp nhân đương nhiên bị truy cứu về bất kỳ tội danh nào. Về trình tự đánh giá, cần xác định tội danh có thuộc phạm vi Điều 76 hay không, sau đó mới xem xét các điều kiện tại Điều 75. Đối với Điều 317, cần đặc biệt lưu ý rằng tội vi phạm quy định về an toàn thực phẩm không được liệt kê trong Điều 76. Do đó, không thể lấy riêng Điều 75 làm căn cứ để truy cứu pháp nhân thương mại trực tiếp về tội danh này.

Điểm cần nhấn mạnh: Điều 75 trả lời câu hỏi “pháp nhân phải đáp ứng điều kiện gì?”; Điều 76 trả lời câu hỏi “pháp nhân có thể chịu trách nhiệm về những tội nào?”. Hai điều khoản này có quan hệ bổ sung nhưng không thể thay thế cho nhau

Dưới đây là bảng phân biệt Điều 75 – Điều 76 – Điều 317 nhằm giúp bạn đọc tránh hiểu nhầm về chủ thể chịu trách nhiệm hình sự:

Điều luật Nội dung chính Vai trò khi xem xét trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại
Điều 75 BLHS Quy định các điều kiện để pháp nhân thương mại chịu trách nhiệm hình sự Trả lời câu hỏi: Pháp nhân thương mại phải đáp ứng những điều kiện nào để chịu TNHS?
Điều 76 BLHS Quy định phạm vi các tội danh mà pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự Trả lời câu hỏi: Pháp nhân thương mại có thể chịu TNHS về những tội nào?
Điều 317 BLHS Quy định về tội vi phạm quy định về an toàn thực phẩm Là tội danh cần đối chiếu với Điều 76 trước khi xem xét khả năng truy cứu pháp nhân thương mại

Logic áp dụng: Điều 76 → xác định tội danh có thuộc phạm vi TNHS của pháp nhân thương mại hay không → nếu có, tiếp tục xem xét các điều kiện tại Điều 75.

Do đó, không thể hiểu theo hướng “đủ 4 điều kiện tại Điều 75 thì pháp nhân thương mại đương nhiên bị truy cứu về Điều 317”. Điều 317 không nằm trong danh mục tội phạm quy định tại Điều 76, nên pháp nhân thương mại không bị truy cứu trực tiếp về tội danh này

3.2. Điều 317 có nằm trong danh mục tội pháp nhân thương mại chịu TNHS không?

Không. Khi xem xét trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại, cần phân biệt điều kiện chịu trách nhiệm theo Điều 75 với phạm vi tội danh theo Điều 76 BLHS. Điều 76 là căn cứ xác định những tội mà pháp nhân thương mại có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự; do đó, không thể chỉ dựa vào việc doanh nghiệp có liên quan đến hành vi vi phạm an toàn thực phẩm để kết luận pháp nhân bị truy cứu theo Điều 317.

Đối chiếu danh mục tại Điều 76, Điều 317 không thuộc nhóm tội mà pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự. Vì vậy, nếu hành vi vi phạm quy định về an toàn thực phẩm xảy ra trong doanh nghiệp, cần tiếp tục xác định trách nhiệm của cá nhân trực tiếp thực hiện, chỉ đạo hoặc có vai trò liên quan, thay vì mặc nhiên quy trách nhiệm hình sự cho pháp nhân.

Kết luận: Điều 317 không thuộc phạm vi trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại theo Điều 76 BLHS.

3.3 Có thể dùng Điều 75 để “bổ sung” Điều 317 vào phạm vi TNHS không?

Không. Điều 75 BLHS không phải là điều khoản mở rộng danh mục tội phạm mà pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự. Quy định này chỉ xác định các điều kiện để một pháp nhân thương mại chịu trách nhiệm hình sự khi hành vi thuộc phạm vi các tội danh được luật quy định.

Vì vậy, không thể lập luận rằng chỉ cần hành vi được thực hiện nhân danh pháp nhân, vì lợi ích của pháp nhân, có sự chỉ đạo hoặc chấp thuận của pháp nhân và chưa hết thời hiệu thì pháp nhân đương nhiên bị truy cứu về Điều 317.

Cần đọc Điều 75 cùng với Điều 76 theo đúng logic: Điều 76 xác định phạm vi tội danh, còn Điều 75 quy định các điều kiện chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại. Khi Điều 317 không thuộc phạm vi quy định tại Điều 76, việc đáp ứng các điều kiện của Điều 75 cũng không thể tự làm phát sinh trách nhiệm hình sự của pháp nhân đối với tội danh này.

Do đó, trong vụ việc vi phạm an toàn thực phẩm, cần tách bạch trách nhiệm hình sự của cá nhân với trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp, thay vì mặc nhiên đồng nhất hành vi của doanh nghiệp với trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại.


✅Phần 4. Bốn điều kiện chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại theo Điều 75 có áp dụng cho Điều 317 không?

4.1 Hành vi được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại

Theo Điều 75 BLHS, một điều kiện để xem xét trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại là hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại. Có thể hiểu, hành vi phải được thực hiện với tư cách đại diện cho hoạt động của doanh nghiệp, thay vì hoàn toàn mang tính cá nhân của người thực hiện. Tuy nhiên, với Điều 317, việc xác định điều kiện này không làm phát sinh trách nhiệm hình sự trực tiếp của pháp nhân, bởi Điều 317 không thuộc phạm vi tội danh quy định tại Điều 76 BLHS.

4.2 Hành vi được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân thương mại

Điều 75 còn yêu cầu hành vi được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân thương mại. Lợi ích này cần được phân biệt với lợi ích riêng của người thực hiện. Chẳng hạn, việc doanh nghiệp chủ động thực hiện một hoạt động nhằm thu lợi cho hoạt động kinh doanh khác với trường hợp một nhân viên tự ý vi phạm để hưởng lợi cá nhân. Dù vậy, đối với Điều 317, đáp ứng điều kiện này vẫn chưa đủ để truy cứu pháp nhân thương mại, vì trước hết phải xác định tội danh đó có thuộc Điều 76 hay không.

4.3 Có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại

Điều 75 BLHS yêu cầu hành vi phạm tội phải được thực hiện do có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại. Khi đánh giá, cần làm rõ ai là người có thẩm quyền quyết định, ai trực tiếp chỉ đạo, phê duyệt hoặc chấp thuận chủ trương liên quan đến hành vi. Tuy nhiên, không nên chỉ căn cứ vào chức danh như giám đốc hay người đại diện theo pháp luật mà mặc nhiên xác định trách nhiệm. Đối với Điều 317, dù có những yếu tố này, vẫn phải xem xét phạm vi Điều 76 trước khi kết luận về trách nhiệm hình sự của pháp nhân.

4.4 Chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự

Điều kiện thứ tư tại Điều 75 là chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Đây là yêu cầu về thời gian để xem xét trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại. Tuy nhiên, điều kiện này chỉ được đặt ra sau khi tội danh thuộc phạm vi pháp nhân thương mại có thể chịu trách nhiệm theo Điều 76. Vì vậy, không thể dựa riêng vào thời hiệu để xác lập trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân về Điều 317.

4.5 Vì sao đủ 4 điều kiện vẫn chưa thể truy cứu pháp nhân theo Điều 317?

Việc pháp nhân thương mại đáp ứng đủ bốn điều kiện tại Điều 75 BLHS chưa đủ để phát sinh trách nhiệm hình sự. Điều 75 chỉ xác lập các điều kiện chung; còn Điều 76 mới quy định phạm vi tội danh mà pháp nhân thương mại có thể chịu trách nhiệm hình sự. Điều 317 không thuộc danh mục tại Điều 76, nên không thể suy luận rằng doanh nghiệp đủ điều kiện Điều 75 sẽ bị truy cứu trực tiếp về tội này. Trách nhiệm hình sự của cá nhân thực hiện hành vi vẫn được xem xét độc lập.


✅Phần 5. Doanh nghiệp vi phạm an toàn thực phẩm thì ai có thể bị truy cứu?

Khi doanh nghiệp có hành vi vi phạm quy định về an toàn thực phẩm, không thể mặc nhiên kết luận doanh nghiệp, giám đốc hoặc người đại diện theo pháp luật đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Cần xác định cụ thể ai thực hiện hành vi, ai biết và tham gia, ai có vai trò chỉ đạo hoặc quyết định, đồng thời đối chiếu các dấu hiệu của tội phạm theo Điều 317 BLHS.

5.1 Người trực tiếp thực hiện hành vi vi phạm

Người trực tiếp thực hiện hành vi vi phạm có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu hành vi thực tế đáp ứng đầy đủ các dấu hiệu của tội vi phạm quy định về an toàn thực phẩm theo Điều 317 BLHS. Trong doanh nghiệp, người này có thể là nhân viên trực tiếp sản xuất, chế biến, bảo quản, vận chuyển hoặc kinh doanh thực phẩm. Việc xác định trách nhiệm không dựa đơn thuần vào chức danh mà phải làm rõ hành vi cụ thể, nhận thức của người thực hiện và mối liên hệ giữa hành vi đó với hậu quả hoặc điều kiện truy cứu theo luật. Vì vậy, cần đánh giá vai trò của cá nhân trong vụ việc thay vì mặc nhiên quy trách nhiệm cho toàn bộ doanh nghiệp.

Ví dụ: Công ty kinh doanh thực phẩm giao cho nhân viên phụ trách kho quản lý nguyên liệu. Người này biết rõ một loại nguyên liệu đã bị cấm sử dụng hoặc không bảo đảm an toàn nhưng vẫn tự ý đưa vào quá trình sản xuất. Nếu hành vi và các điều kiện khác đáp ứng Điều 317, trách nhiệm hình sự được xem xét đối với cá nhân trực tiếp thực hiện, chứ không mặc nhiên quy trách nhiệm hình sự cho toàn bộ doanh nghiệp.

5.2.Người quản lý, điều hành hoặc quyết định hoạt động liên quan

Người quản lý, điều hành hoặc người có quyền quyết định trong doanh nghiệp có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự nếu chính họ thực hiện hành vi phạm tội, trực tiếp chỉ đạo, quyết định hoặc có vai trò khác trong hành vi phạm tội theo căn cứ cụ thể của vụ án.

Cần tránh cách hiểu rằng cứ là Giám đốc, Tổng giám đốc, người đại diện theo pháp luật hoặc chủ doanh nghiệp thì đương nhiên phải chịu trách nhiệm hình sự khi doanh nghiệp xảy ra vi phạm. Trách nhiệm hình sự phải gắn với hành vi và vai trò thực tế của từng cá nhân.

Ví dụ: Giám đốc biết rõ nguyên liệu được sử dụng trong sản xuất không bảo đảm an toàn nhưng vẫn chỉ đạo bộ phận sản xuất tiếp tục sử dụng để giảm chi phí. Nếu có đủ căn cứ chứng minh hành vi của Giám đốc thỏa mãn các dấu hiệu của tội phạm theo Điều 317, người này có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự với tư cách cá nhân thực hiện hoặc có vai trò liên quan đến hành vi phạm tội, tùy kết quả điều tra.

Ngược lại, nếu Giám đốc không biết về hành vi tự ý của một nhân viên và không có căn cứ chứng minh ông/bà này đã thực hiện, chỉ đạo hoặc tham gia hành vi phạm tội thì không thể chỉ dựa vào chức danh quản lý để kết luận trách nhiệm hình sự.

5.3 Người biết rõ hành vi vi phạm nhưng vẫn thực hiện hoặc chỉ đạo

Người biết rõ hành vi vi phạm nhưng vẫn thực hiện hoặc chỉ đạo có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự nếu hành vi thực tế đáp ứng đầy đủ dấu hiệu của Điều 317 BLHS. Điều này đặc biệt đáng lưu ý khi người thực hiện biết rõ chất, hóa chất, nguyên liệu hoặc thực phẩm không bảo đảm an toàn nhưng vẫn tiếp tục sử dụng, chế biến, cung cấp hoặc bán.

Ví dụ: Công ty kinh doanh thực phẩm phát hiện một lô nguyên liệu không bảo đảm an toàn. Nếu người phụ trách sản xuất biết rõ tình trạng này nhưng vẫn quyết định đưa nguyên liệu vào chế biến để bán ra thị trường, cơ quan tiến hành tố tụng có thể phải làm rõ nhận thức, quyết định và vai trò thực tế của người này. Nếu hành vi đáp ứng đầy đủ các dấu hiệu của Điều 317 thì cá nhân đó có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự.

Trường hợp nhiều người cùng cố ý thực hiện hành vi phạm tội, cần xác định vai trò cụ thể của từng người thay vì chỉ căn cứ vào chức vụ trong doanh nghiệp.

5.4 Không phải cứ doanh nghiệp vi phạm là người đại diện bị truy cứu

Việc doanh nghiệp có hành vi vi phạm không đồng nghĩa người đại diện theo pháp luật đương nhiên bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Cơ quan tiến hành tố tụng phải xác định hành vi cụ thể của từng cá nhân, nhận thức, mức độ tham gia và mối liên hệ của họ với hành vi bị xem xét.

Ví dụ: Công ty kinh doanh thực phẩm có nhân viên kho tự ý đưa nguyên liệu không bảo đảm an toàn vào sản xuất mà không được giám đốc biết hoặc chỉ đạo. Khi đó, không thể chỉ dựa vào chức danh giám đốc để kết luận người này phải chịu trách nhiệm hình sự. Ngược lại, nếu có tài liệu chứng minh giám đốc biết rõ tình trạng nguyên liệu, trực tiếp chỉ đạo hoặc chấp thuận việc sử dụng, vai trò của giám đốc cần được xem xét trên cơ sở hành vi và chứng cứ cụ thể.

Do đó, chức danh giám đốc, người đại diện theo pháp luật hoặc quản lý doanh nghiệp không tự nó là căn cứ xác định trách nhiệm hình sự.


✅Phần 6. Phân biệt trách nhiệm hình sự của cá nhân và trách nhiệm của doanh nghiệp

6.1 Cá nhân có thể bị truy cứu theo Điều 317

Trong doanh nghiệp, trách nhiệm hình sự về tội vi phạm quy định về an toàn thực phẩm theo Điều 317 BLHS có thể đặt ra đối với cá nhân nếu người đó trực tiếp thực hiện hành vi và có đủ dấu hiệu của tội phạm. Các hành vi có thể liên quan đến việc sử dụng chất, hóa chất, nguyên liệu bị cấm hoặc không bảo đảm an toàn; chế biến, cung cấp, bán thực phẩm không bảo đảm điều kiện theo quy định; hoặc thực hiện các hành vi khác thuộc phạm vi Điều 317. Việc xác định trách nhiệm không dựa đơn thuần vào chức danh như giám đốc, quản lý hay nhân viên, mà phải làm rõ hành vi cụ thể, vai trò, nhận thức và các tình tiết liên quan của từng người.

6.2 Doanh nghiệp vẫn có thể bị xử lý bằng các cơ chế pháp lý khác

Việc pháp nhân thương mại không phải là chủ thể chịu trách nhiệm hình sự trực tiếp về Điều 317 không có nghĩa doanh nghiệp đương nhiên không phải chịu trách nhiệm pháp lý. Tùy tính chất và hậu quả của hành vi, doanh nghiệp có thể bị xử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm; đồng thời phải thực hiện các biện pháp khắc phục theo quy định, chẳng hạn thu hồi, xử lý hoặc tiêu hủy sản phẩm không bảo đảm an toàn khi có căn cứ áp dụng. Nếu hành vi gây thiệt hại cho người khác, doanh nghiệp còn có thể phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Ngoài ra, tùy vụ việc, doanh nghiệp có thể phải chịu các hậu quả pháp lý khác theo quy định chuyên ngành. Vì vậy, cần tách bạch trách nhiệm hình sự của cá nhân với trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp trong cùng một vụ việc.

6.3 Khi nào cần xem xét một tội danh khác đối với pháp nhân thương mại?

Không phải mọi hành vi vi phạm liên quan đến thực phẩm đều được xử lý theo Điều 317 BLHS. Khi vụ việc có dấu hiệu của một tội danh khác, cần xác định chính xác hành vi, chủ thể thực hiện và đối chiếu với danh mục tội phạm mà pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 76 BLHS. Nếu tội danh được xem xét thuộc phạm vi Điều 76, mới tiếp tục đánh giá các điều kiện quy định tại Điều 75, như hành vi được thực hiện nhân danh pháp nhân, vì lợi ích của pháp nhân hoặc có sự chỉ đạo, điều hành, chấp thuận của pháp nhân. Vì vậy, không nên chỉ dựa vào việc doanh nghiệp kinh doanh hoặc sản xuất thực phẩm để kết luận pháp nhân thương mại có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không; cần xem xét toàn bộ hành vi và căn cứ pháp lý của từng vụ việc.

Việc doanh nghiệp không thuộc chủ thể chịu TNHS theo Điều 317 không đồng nghĩa mọi vi phạm đều không bị xử lý; cần phân biệt giữa vi phạm an toàn thực phẩm bị xử phạt hành chính hay hình sự. Để hiểu rõ hơn mời bạn tham khảo Vi phạm an toàn thực phẩm bị xử phạt hành chính hay hình sự?


✅Phần 7. Ví dụ thực tế: Công ty kinh doanh thực phẩm vi phạm thì xử lý thế nào?

7.1 Tình huống 1 – Nhân viên tự ý sử dụng nguyên liệu vi phạm

Giả sử một nhân viên tự ý sử dụng nguyên liệu không bảo đảm an toàn thực phẩm trong quá trình chế biến mà không được người quản lý hoặc doanh nghiệp chỉ đạo, chấp thuận. Trường hợp hành vi đáp ứng đầy đủ dấu hiệu của Điều 317 BLHS, nhân viên có thể phải chịu trách nhiệm hình sự với tư cách cá nhân. Ngược lại, không thể chỉ vì hành vi xảy ra tại doanh nghiệp mà mặc nhiên truy cứu người quản lý hoặc doanh nghiệp. Cơ quan tiến hành tố tụng cần làm rõ ai thực hiện, ai biết, ai chỉ đạo hoặc chấp thuận và vai trò thực tế của từng người. Riêng pháp nhân thương mại không bị truy cứu trực tiếp về Điều 317 do tội danh này không thuộc phạm vi Điều 76 BLHS.

7.2 Tình huống 2 – Người quản lý chỉ đạo sử dụng nguyên liệu không bảo đảm —

Giả sử người quản lý biết rõ nguyên liệu không bảo đảm an toàn nhưng vẫn trực tiếp chỉ đạo nhân viên đưa vào chế biến, thì trách nhiệm hình sự cần được xem xét đối với cá nhân người quản lý nếu hành vi đáp ứng đầy đủ dấu hiệu của Điều 317 BLHS. Việc người này thực hiện hành vi với tư cách quản lý doanh nghiệp không làm phát sinh trách nhiệm hình sự một cách tự động cho pháp nhân thương mại. Cơ quan tiến hành tố tụng cần làm rõ nội dung chỉ đạo, mức độ nhận thức, vai trò thực tế và mối liên hệ giữa quyết định của người quản lý với hành vi vi phạm. Đây cũng là điểm cần phân biệt giữa trách nhiệm của cá nhân và trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp.

7.3 Tình huống 3 – Hành vi thuộc tội danh khác nằm trong Điều 76

Giả sử một doanh nghiệp thực hiện hành vi liên quan đến thực phẩm nhưng hành vi đó không được xem xét theo Điều 317 mà có dấu hiệu của một tội danh thuộc phạm vi Điều 76 BLHS, thì cách xác định trách nhiệm sẽ khác. Khi đó, cần tiếp tục đối chiếu các điều kiện tại Điều 75 và các quy định của tội danh tương ứng để xác định pháp nhân thương mại có phải chịu trách nhiệm hình sự hay không. Vì vậy, không nên đồng nhất “vi phạm liên quan đến thực phẩm” với “pháp nhân bị truy cứu theo Điều 317”. Tội danh cụ thể và phạm vi Điều 76 là căn cứ quyết định.

Bài học kinh nghiệm từ thực tiễn

Thực tiễn xử lý các vụ việc liên quan đến an toàn thực phẩm cho thấy không nên đồng nhất hành vi vi phạm của doanh nghiệp với trách nhiệm hình sự của từng cá nhân hoặc pháp nhân thương mại. Khi đánh giá một vụ việc, cần truy ngược quá trình ra quyết định: nguyên liệu do ai lựa chọn, ai kiểm tra, ai phê duyệt, ai chỉ đạo sử dụng và người thực hiện có biết rõ tính chất của nguyên liệu hay không. Đối với người quản lý, chức danh không tự động làm phát sinh trách nhiệm hình sự nếu không có hành vi và lỗi tương ứng. Ngược lại, nếu có tài liệu thể hiện việc biết rõ, chỉ đạo hoặc chấp thuận hành vi vi phạm, vai trò của cá nhân đó cần được xem xét độc lập. Vì vậy, doanh nghiệp nên xây dựng quy trình kiểm soát nguồn nguyên liệu, phân định rõ trách nhiệm của từng vị trí và lưu giữ hồ sơ kiểm tra để hạn chế rủi ro pháp lý khi phát sinh vụ việc.


✅Phần 8. Những nhầm lẫn thường gặp về pháp nhân thương mại và Điều 317

8.1 “Công ty phạm tội thì công ty bị truy cứu Điều 317”

Không phải cứ hành vi vi phạm xảy ra trong hoạt động của công ty thì pháp nhân thương mại bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Điều 317. Điều 317 quy định trách nhiệm đối với người thực hiện hành vi phạm tội, trong khi phạm vi tội danh mà pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự được xác định theo Điều 76 BLHS. Điều 317 không thuộc danh mục này.

8.2 “Chỉ cần đủ 4 điều kiện Điều 75 là pháp nhân bị truy cứu”

Đây là cách hiểu chưa đầy đủ. Bốn điều kiện tại Điều 75 chỉ được xem xét đối với những tội danh thuộc phạm vi trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại theo Điều 76. Vì vậy, không thể chỉ chứng minh hành vi được thực hiện nhân danh, vì lợi ích hoặc theo sự chỉ đạo của doanh nghiệp rồi kết luận pháp nhân phải chịu trách nhiệm hình sự về Điều 317.

8.3 “Giám đốc luôn chịu trách nhiệm hình sự khi công ty vi phạm”

Giám đốc hoặc người đại diện theo pháp luật không đương nhiên chịu trách nhiệm hình sự chỉ vì doanh nghiệp xảy ra vi phạm an toàn thực phẩm. Trách nhiệm hình sự phải được xác định trên cơ sở hành vi cụ thể, vai trò, lỗi và các dấu hiệu của tội phạm. Nếu cá nhân có hành vi thỏa mãn Điều 317, người đó có thể bị truy cứu độc lập với tư cách cá nhân.

8.4. “Doanh nghiệp không bị Điều 317 thì không bị xử lý”

Không bị truy cứu trách nhiệm hình sự trực tiếp theo Điều 317 không đồng nghĩa doanh nghiệp được miễn mọi trách nhiệm pháp lý. Tùy tính chất, mức độ và hành vi vi phạm, doanh nghiệp có thể phải chịu xử phạt vi phạm hành chính, thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả hoặc phát sinh trách nhiệm dân sự. Cần xác định đúng cơ chế xử lý áp dụng cho từng hành vi.

8.5 “Điều 317 và Điều 193 đều liên quan đến thực phẩm nên pháp nhân chịu TNHS như nhau”

Không thể xác định trách nhiệm hình sự của pháp nhân chỉ dựa vào việc hai tội danh đều liên quan đến lĩnh vực thực phẩm. Phải đối chiếu chính xác tội danh với Điều 76 BLHS để xác định pháp nhân thương mại có thuộc phạm vi chịu trách nhiệm hình sự hay không. Vì vậy, Điều 317 và Điều 193 phải được đánh giá độc lập theo từng quy định.


✅Phần 9. Hồ sơ, chứng cứ cần làm rõ khi doanh nghiệp bị điều tra vụ án an toàn thực phẩm

9.1. Nhóm tài liệu về nguồn gốc và quá trình sản xuất, kinh doanh

Khi doanh nghiệp liên quan đến vụ án an toàn thực phẩm, cần rà soát các tài liệu thể hiện nguồn gốc nguyên liệu, quá trình nhập hàng, sản xuất, chế biến, bảo quản và đưa sản phẩm ra thị trường. Đây có thể là hợp đồng, hóa đơn, phiếu nhập xuất kho, hồ sơ kiểm nghiệm và tài liệu nội bộ liên quan. Việc đối chiếu các tài liệu này giúp làm rõ nguồn gốc sản phẩm, quá trình kiểm soát và trách nhiệm của từng cá nhân, thay vì chỉ căn cứ vào tư cách người quản lý.

9.2 Tài liệu thể hiện vai trò của người quản lý và nhân viên

Một doanh nghiệp có nhiều người cùng tham gia hoạt động sản xuất, kinh doanh nên cần phân định cụ thể ai thực hiện, ai quản lý, ai kiểm tra và ai ra quyết định. Các tài liệu như phân công công việc, quy trình nội bộ, hợp đồng lao động, biên bản giao nhận hoặc trao đổi công việc có thể giúp làm rõ vai trò thực tế của từng người. Đặc biệt, không nên mặc nhiên đồng nhất trách nhiệm của doanh nghiệp với trách nhiệm hình sự của giám đốc hoặc người đại diện theo pháp luật.

9.3. Tài liệu chứng minh nhận thức, chỉ đạo hoặc quyết định

Đối với cá nhân bị xem xét trách nhiệm hình sự, vấn đề quan trọng không chỉ là họ giữ chức vụ gì mà còn là họ có biết, chỉ đạo, chấp thuận hoặc trực tiếp quyết định hành vi liên quan hay không. Vì vậy, cần đối chiếu các quyết định, văn bản nội bộ, hồ sơ phê duyệt, tài liệu giao việc và những chứng cứ hợp pháp khác để đánh giá nhận thức và vai trò thực tế. Việc kết luận trách nhiệm phải dựa trên chứng cứ được thu thập, kiểm tra và đánh giá theo quy định pháp luật, không dựa đơn thuần vào chức danh.

Lưu ý: Doanh nghiệp và cá nhân liên quan không được tiêu hủy, che giấu, sửa chữa, làm sai lệch hoặc tác động trái pháp luật vào chứng cứ, tài liệu. Khi phát sinh vụ việc, nên bảo toàn tài liệu hiện có và thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng theo đúng quy định.

Để hiểu rõ hơn về quá trình xử lý vụ án, bạn có thể tham khảo “Quy trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử tội vi phạm quy định về an toàn thực phẩm


✅Phần 10. Câu hỏi về pháp nhân thương mại và Điều 317

❓Công ty có bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 317 không?

Không. Pháp nhân thương mại không bị truy cứu trách nhiệm hình sự trực tiếp về tội vi phạm quy định về an toàn thực phẩm theo Điều 317 BLHS, vì Điều 317 không thuộc danh mục tội phạm tại Điều 76 BLHS mà pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự. Cá nhân liên quan vẫn có thể bị truy cứu nếu đủ dấu hiệu phạm tội.

❓Pháp nhân thương mại có được áp dụng Điều 75 khi xảy ra vi phạm an toàn thực phẩm không?

Điều 75 BLHS quy định điều kiện để pháp nhân thương mại chịu trách nhiệm hình sự, nhưng phải kết hợp với Điều 76 về phạm vi tội danh. Do Điều 317 không thuộc danh mục tại Điều 76, không thể chỉ căn cứ vào các điều kiện của Điều 75 để truy cứu pháp nhân thương mại về tội này.

❓Giám đốc công ty vi phạm an toàn thực phẩm có bị đi tù không?

Không mặc nhiên. Công ty vi phạm không đồng nghĩa giám đốc phải chịu trách nhiệm hình sự. Cần xác định hành vi cụ thể, vai trò, lỗi và các dấu hiệu cấu thành tội phạm của cá nhân. Nếu hành vi đáp ứng Điều 317 và có đủ căn cứ chứng minh, giám đốc có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

❓Doanh nghiệp không bị Điều 317 thì có bị xử lý không?

Có thể. Việc pháp nhân thương mại không bị truy cứu trách nhiệm hình sự trực tiếp theo Điều 317 không đồng nghĩa doanh nghiệp được miễn mọi trách nhiệm pháp lý. Tùy tính chất hành vi, doanh nghiệp vẫn có thể bị xử phạt vi phạm hành chính, phải bồi thường thiệt hại hoặc chịu các biện pháp pháp lý khác theo quy định.

❓Pháp nhân thương mại chịu trách nhiệm hình sự về những tội nào?

Pháp nhân thương mại chỉ chịu trách nhiệm hình sự đối với các tội thuộc phạm vi quy định tại Điều 76 BLHS. Vì vậy, phải xác định chính xác tội danh trước khi xem xét trách nhiệm của pháp nhân. Không thể suy luận rằng mọi hành vi phạm tội của người quản lý hoặc nhân viên vì lợi ích doanh nghiệp đều làm phát sinh trách nhiệm hình sự của pháp nhân.


✅Phần 11. Kết luận

Điều 317 BLHS quy định về tội vi phạm quy định về an toàn thực phẩm và chủ yếu đặt trách nhiệm hình sự đối với cá nhân thực hiện hành vi đủ dấu hiệu phạm tội. Đối với pháp nhân thương mại, cần phân biệt rõ Điều 75 và Điều 76 BLHS: Điều 75 quy định điều kiện chịu trách nhiệm hình sự, còn Điều 76 xác định phạm vi tội danh mà pháp nhân thương mại có thể chịu trách nhiệm hình sự.

Theo phạm vi được quy định tại Điều 76, Điều 317 không thuộc danh mục các tội mà pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự. Vì vậy, không thể chỉ căn cứ vào việc hành vi được thực hiện vì lợi ích doanh nghiệp hoặc đáp ứng các điều kiện tại Điều 75 để truy cứu pháp nhân thương mại trực tiếp về Điều 317.

Tuy nhiên, điều này không đồng nghĩa doanh nghiệp hoặc người quản lý đương nhiên không phải chịu bất kỳ trách nhiệm nào. Cá nhân trực tiếp thực hiện, chỉ đạo hoặc có vai trò liên quan vẫn có thể bị truy cứu nếu hành vi đáp ứng đầy đủ dấu hiệu của Điều 317. Doanh nghiệp cũng có thể phát sinh các trách nhiệm pháp lý khác tùy tính chất, hậu quả và hành vi vi phạm.

Nếu doanh nghiệp đang bị kiểm tra hoặc cá nhân quản lý bị xác định có liên quan đến vụ việc an toàn thực phẩm, cần rà soát riêng hành vi, vai trò, tài liệu và tội danh có thể áp dụng trước khi kết luận trách nhiệm hình sự.

Trường hợp người quản lý hoặc cá nhân liên quan đã bị khởi tố, việc xác định đúng vai trò, hành vi và chứng cứ có ý nghĩa quan trọng trong quá trình bảo vệ quyền lợi; có thể xem thêm nội dung về bào chữa tội vi phạm quy định về an toàn thực phẩm.

☎️ Liên hệ luật sư Hotline/Telegram/Zalo: 0338 919 686 | 0969 566 766

Website: https://luatdungtrinh.vn|

Email:luatdungtrinh@gmail.com|

  • Tags

Tin liên quan

Trình tự, thủ tục khởi tố vụ án hình sự từ A–Z theo quy định mới nhất
Khởi tố vụ án hình sự là bước đầu tiên trong tố tụng nhằm xác định có hay không dấu hiệu tội phạm. Quy trình khởi tố vụ án hình sự bao gồm tiếp nhận tin báo, xác minh và ra quyết định theo luật định. Việc hiểu rõ điều kiện khởi tố, thời hạn xử lý giúp cá nhân, doanh nghiệp bảo vệ quyền lợi hợp pháp
Người dân có quyền tố cáo cán bộ công an không?
Người dân có quyền tố cáo cán bộ công an vi phạm pháp luật không? Phân tích Điều 32 BLTTHS 2015, thẩm quyền, thời hạn, thủ tục và bảo vệ người tố cáo.
Tố cáo cán bộ công an vi phạm pháp luật ở đâu?
Hướng dẫn tố cáo cán bộ công an vi phạm pháp luật đúng thẩm quyền: gửi ở đâu, cơ quan nào giải quyết, căn cứ pháp lý và bảo vệ người tố cáo theo luật.
Tư vấn tố giác tội phạm?
Theo quy định pháp luật, công dân có thể tố giác, tố cáo tội phạm tại bất kỳ cơ quan nhà nước nào, không bị giới hạn cứng nhắc về địa điểm tiếp nhận. Các cơ quan phổ biến gồm: Cơ quan Cảnh sát điều tra; Viện kiểm sát nhân dân;Tòa án nhân dân; Công an xã, phường, thị trấn; Các cơ quan, tổ chức nhà nước khác.
Mẫu đơn tố giác tội phạm mới nhất 2026?
Cập nhật mẫu đơn tố giác, tố cáo tội phạm mới nhất 2026: đánh người, lừa đảo, trộm cắp, vu khống, công an vi phạm. Luật sư Trịnh Văn Dũng tư vấn, hỗ trợ soạn đơn đúng luật.
Trường hợp được phép tạm giữ người?
Tạm giữ người là gì? Khi nào công an được tạm giữ người, thời hạn bao lâu, quyền của người bị tạm giữ và cách xử lý khi tạm giữ trái pháp luật. Luật sư phân tích chi tiết.
Hình fanpage
tvpl
Thông tin luật sư
Đoàn luật sư
Thành phố Hà Nội

Luật sư: TRỊNH VĂN DŨNG

Điện thoại: 0969566766

Zalo: 0338919686

Liên hệ Luật sư qua: youtube
Liên hệ Luật sư qua: tiktok
Liên hệ Luật sư qua: email
Khách hàng đặt câu hỏi tư vấn