Có. Hành vi sản xuất, kinh doanh thực phẩm bẩn có thể bị phạt đến 20 năm tù theo Điều 317 Bộ luật Hình sự.
Chỉ bị truy cứu hình sự khi gây hậu quả nghiêm trọng, thiệt hại lớn hoặc thu lợi bất chính đáng kể.
Nếu mức độ nguy hiểm chưa đến ngưỡng tội phạm, người vi phạm sẽ bị xử phạt hành chính.
Dưới đây là phân tích chi tiết Điều 317 BLHS, điều kiện khởi tố và khung hình phạt cụ thể.


✅ I. Điều 317 Bộ luật Hình sự quy định gì?

  • Điều 317 của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi 2017) xử lý hình sự hành vi sản xuất, kinh doanh thực phẩm không bảo đảm an toàn.

  • Áp dụng khi gây thiệt hại sức khỏe, tính mạng hoặc thu lợi bất chính lớn.


1. Phạm vi điều chỉnh của Điều 317

Điều 317 điều chỉnh các hành vi xâm phạm trực tiếp đến an toàn trong sản xuất và lưu thông thực phẩm. Cụ thể bao gồm:

  • Sản xuất, chế biến thực phẩm sử dụng nguyên liệu không bảo đảm tiêu chuẩn;

  • Sử dụng phụ gia, chất hỗ trợ chế biến, hóa chất ngoài danh mục cho phép hoặc vượt quá ngưỡng an toàn;

  • Buôn bán, phân phối thực phẩm không rõ nguồn gốc, thực phẩm nhiễm độc;

  • Cung cấp thực phẩm gây ngộ độc, tổn hại sức khỏe cho người tiêu dùng.

Tuy nhiên, yếu tố mấu chốt không chỉ nằm ở hành vi vi phạm quy định hành chính, mà còn ở hậu quả thực tế hoặc mức độ nguy hiểm tiềm ẩn. Nếu chưa gây hậu quả nghiêm trọng hoặc chưa đạt ngưỡng luật định, người vi phạm thường chỉ bị xử phạt hành chính theo pháp luật chuyên ngành.


2. Hành vi nào có thể bị truy cứu hình sự?

Trên thực tế giải quyết án, các hành vi thường bị xem xét truy cứu hình sự theo Điều 317 bao gồm:

  • Sử dụng chất cấm trong chăn nuôi, giết mổ, chế biến thực phẩm;

  • Sản xuất thực phẩm giả mạo nguồn gốc hoặc giả về chất lượng;

  • Cố ý lưu hành thực phẩm đã biết rõ bị nhiễm độc, nhiễm vi sinh vượt chuẩn;

  • Kinh doanh thực phẩm gây ngộ độc tập thể hoặc làm chết người;

  • Thu lợi bất chính với giá trị lớn từ hành vi vi phạm.

Cần nhấn mạnh rằng lỗi trong tội danh này thường là lỗi cố ý. Nếu không chứng minh được người thực hiện hành vi biết rõ tính nguy hiểm của sản phẩm nhưng vẫn thực hiện để thu lợi, việc truy cứu trách nhiệm hình sự sẽ gặp khó khăn.


3. Cấu trúc của Điều 317

Điều 317 được thiết kế theo cấu trúc phân tầng, thể hiện nguyên tắc cá thể hóa trách nhiệm hình sự:

  • Khoản 1: Quy định khung hình phạt cơ bản áp dụng khi gây thiệt hại hoặc thu lợi ở mức khởi điểm luật định.

  • Khoản 2 và Khoản 3: Tăng nặng khi hậu quả lớn hơn, có yếu tố tổ chức, tái phạm hoặc làm chết người.

  • Khoản 4: Hình phạt bổ sung như phạt tiền, cấm hành nghề, cấm đảm nhiệm chức vụ.

  • Khoản 5: Trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại.

Mức hình phạt cao nhất đối với cá nhân có thể lên đến 20 năm tù, phản ánh quan điểm lập pháp coi hành vi xâm phạm an toàn thực phẩm là nguy hiểm trực tiếp đến sức khỏe cộng đồng.


4. Điểm khác biệt so với xử phạt hành chính

Không phải mọi hành vi vi phạm an toàn thực phẩm đều cấu thành tội phạm. Ranh giới giữa xử phạt hành chính và truy cứu hình sự nằm ở:

  • Mức độ thiệt hại thực tế;

  • Giá trị thu lợi bất chính;

  • Quy mô và tính chất hành vi;

  • Yếu tố lỗi và nhận thức của người vi phạm.

Trong nhiều trường hợp, cùng một hành vi nhưng hậu quả khác nhau sẽ dẫn đến hệ quả pháp lý hoàn toàn khác biệt.


✅ II. Khi nào vi phạm an toàn thực phẩm bị truy cứu trách nhiệm hình sự?

Không phải mọi hành vi sản xuất, kinh doanh thực phẩm bẩn đều bị xử lý hình sự. Trên thực tế, cơ quan tiến hành tố tụng chỉ khởi tố vụ án theo Điều 317 của Bộ luật Hình sự 2015 khi hành vi vi phạm đã đạt đến ngưỡng nguy hiểm đáng kể cho xã hội theo tiêu chí luật định.

Việc truy cứu trách nhiệm hình sự thường phụ thuộc vào ba nhóm yếu tố chính: hậu quả thực tế, mức thu lợi bất chính và yếu tố lỗi.


1. Khi có hậu quả nghiêm trọng về sức khỏe, tính mạng

Đây là căn cứ phổ biến nhất để khởi tố. Thực tiễn xét xử cho thấy các trường hợp sau thường bị truy cứu:

  • Gây ngộ độc thực phẩm tập thể;

  • Làm nhiều người nhập viện điều trị;

  • Gây tổn hại sức khỏe với tỷ lệ thương tật đáng kể;

  • Làm chết người.

Trong các vụ án này, cơ quan điều tra sẽ trưng cầu giám định để xác định nguyên nhân ngộ độc, mức độ tổn hại và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và hậu quả xảy ra. Nếu không chứng minh được mối quan hệ nhân quả trực tiếp, việc truy cứu hình sự có thể không đủ căn cứ.


2. Khi thu lợi bất chính đạt mức luật định

Ngay cả khi chưa gây hậu quả nghiêm trọng về sức khỏe, hành vi vẫn có thể bị truy cứu nếu người vi phạm thu lợi bất chính với giá trị lớn.

Trong thực tiễn, cơ quan điều tra sẽ:

  • Xác định doanh thu từ lô hàng vi phạm;

  • Trừ chi phí hợp lý;

  • Làm rõ khoản lợi nhuận thu được từ hành vi trái pháp luật.

Nếu mức thu lợi đạt ngưỡng truy cứu theo quy định tại Điều 317, hành vi có thể bị khởi tố dù chưa xảy ra thiệt hại cụ thể cho người tiêu dùng.


3. Khi có yếu tố cố ý rõ ràng

Lỗi trong tội danh này chủ yếu là lỗi cố ý trực tiếp. Nghĩa là:

  • Người thực hiện biết rõ thực phẩm không bảo đảm an toàn;

  • Nhận thức được khả năng gây hại;

  • Nhưng vẫn thực hiện nhằm mục đích thu lợi.

Nếu không chứng minh được yếu tố “biết rõ” này, hành vi có thể chỉ dừng ở mức xử phạt hành chính do vi phạm quy định quản lý.

Đây là điểm mấu chốt trong nhiều vụ án: ranh giới giữa sai sót trong quản lý và hành vi phạm tội nằm ở nhận thức chủ quan của người thực hiện.


4. Khi hành vi có tính tổ chức hoặc tái phạm

Những tình tiết như:

  • Phạm tội có tổ chức;

  • Phân công vai trò rõ ràng trong dây chuyền sản xuất – tiêu thụ;

  • Đã từng bị xử phạt hành chính nhưng tiếp tục vi phạm;

thường là căn cứ để áp dụng khung hình phạt tăng nặng.

Trong thực tế xét xử, các vụ việc liên quan đến chuỗi cung ứng thực phẩm quy mô lớn, hoạt động kéo dài trong thời gian dài thường bị đánh giá là có tính chất nghiêm trọng hơn so với hành vi nhỏ lẻ, tự phát.


5. Trường hợp chỉ bị xử phạt hành chính

Người vi phạm thường chỉ bị xử phạt hành chính khi:

  • Chưa gây hậu quả đáng kể;

  • Chưa đạt ngưỡng thu lợi bất chính;

  • Không có căn cứ chứng minh yếu tố cố ý;

  • Vi phạm mang tính chất lần đầu, quy mô nhỏ.

Việc phân định giữa hành chính và hình sự đòi hỏi đánh giá toàn diện hồ sơ vụ việc, không chỉ căn cứ vào hành vi bề ngoài.


6. Thực tiễn điều tra – truy tố – xét xử

Trong giai đoạn điều tra, cơ quan chức năng thường tập trung vào:

  • Thu thập mẫu thực phẩm để giám định;

  • Lấy lời khai về quy trình sản xuất, nguồn nguyên liệu;

  • Xác định chuỗi phân phối và lợi nhuận thu được;

  • Trưng cầu giám định thiệt hại sức khỏe.

Ở giai đoạn truy tố và xét xử, trọng tâm tranh luận thường xoay quanh:

  • Có hay không yếu tố cố ý;

  • Mức độ hậu quả thực tế;

  • Giá trị thu lợi bất chính;

  • Vai trò của từng cá nhân trong chuỗi vi phạm.

Đây cũng là lý do vì sao trong nhiều vụ án, việc đánh giá chính xác chứng cứ và chiến lược bào chữa có ý nghĩa quyết định đến việc xác định khung hình phạt.

7. Điều 317, BLHS năm 2015, sửa đổi 2017 quy định hành vi vi phạm quy định về an toàn thực phẩm

Khoản 1: Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm đối với người có một trong các hành vi vi phạm quy định về an toàn thực phẩm sau đây:

a) Sử dụng chất, hóa chất, kháng sinh, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, phụ gia thực phẩm hoặc chất hỗ trợ chế biến thực phẩm mà biết là cấm sử dụng hoặc ngoài danh mục được phép sử dụng trong sản xuất thực phẩm mà sản phẩm trị giá từ 10.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

b) Sử dụng động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy theo quy định của pháp luật để chế biến thực phẩm hoặc cung cấp, bán thực phẩm mà biết là có nguồn gốc từ động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy mà sản phẩm trị giá từ 10.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Sử dụng chất, hóa chất, kháng sinh, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, phụ gia thực phẩm hoặc chất hỗ trợ chế biến thực phẩm mà biết là chưa được phép sử dụng hoặc chưa được phép lưu hành tại Việt Nam trong sản xuất thực phẩm mà sản phẩm trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc sản phẩm trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

d) Nhập khẩu, cung cấp hoặc bán thực phẩm mà biết là có sử dụng chất, hóa chất, phụ gia thực phẩm hoặc chất hỗ trợ chế biến thực phẩm cấm sử dụng hoặc ngoài danh mục được phép sử dụng trị giá từ 10.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc thu lợi bất chính từ 5.000.000 đồng đến dưới 20.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

đ) Nhập khẩu, cung cấp hoặc bán thực phẩm mà biết là có sử dụng chất, hóa chất, phụ gia thực phẩm hoặc chất hỗ trợ chế biến thực phẩm chưa được phép sử dụng hoặc chưa được phép lưu hành tại Việt Nam trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng; thực phẩm trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc thu lợi bất chính từ 20.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

e) Thực hiện một trong các hành vi quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm đ khoản này hoặc chế biến, cung cấp, bán thực phẩm mà biết là thực phẩm không bảo đảm quy chuẩn kỹ thuật, quy định về an toàn thực phẩm gây ngộ độc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của từ 05 người đến 20 người hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%.

Khoản 2: Phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 03 năm đến 07 năm nếu người phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Có tổ chức;

b) Làm chết người;

c) Gây ngộ độc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của từ 21 người đến 100 người;

d) Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

đ) Gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

e) Thực phẩm có sử dụng chất, hóa chất, kháng sinh, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, phụ gia thực phẩm hoặc chất hỗ trợ chế biến thực phẩm cấm sử dụng hoặc ngoài danh mục được phép sử dụng trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc thu lợi bất chính từ 20.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng;

g) Thực phẩm có sử dụng nguyên liệu là động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng;

h) Thực phẩm có sử dụng chất, hóa chất, kháng sinh, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, phụ gia thực phẩm hoặc chất hỗ trợ chế biến thực phẩm chưa được phép sử dụng hoặc chưa được phép lưu hành tại Việt Nam trị giá từ 300.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

i) Tái phạm nguy hiểm.

Khoản 3: Phạt tù từ 07 năm đến 15 năm nếu người phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Làm chết 02 người;

b) Gây ngộ độc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của từ 101 người đến 200 người;

c) Gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%;

d) Thực phẩm có sử dụng chất, hóa chất, kháng sinh, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, phụ gia thực phẩm hoặc chất hỗ trợ chế biến thực phẩm cấm sử dụng hoặc ngoài danh mục được phép sử dụng trị giá từ 300.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng;

đ) Thực phẩm có sử dụng nguyên liệu là động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy trị giá từ 300.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

e) Thực phẩm có sử dụng chất, hóa chất, kháng sinh, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, phụ gia thực phẩm hoặc chất hỗ trợ chế biến thực phẩm chưa được phép sử dụng hoặc chưa được phép lưu hành tại Việt Nam trị giá từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng hoặc thu lợi bất chính từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

Khoản 4: Phạt tù từ 12 năm đến 20 năm nếu người phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Làm chết 03 người trở lên;

b) Gây ngộ độc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của 201 người trở lên;

c) Gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;

d) Thực phẩm có sử dụng chất, hóa chất, kháng sinh, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, phụ gia thực phẩm hoặc chất hỗ trợ chế biến thực phẩm cấm sử dụng hoặc ngoài danh mục được phép sử dụng trị giá 500.000.000 đồng trở lên hoặc thu lợi bất chính 300.000.000 đồng trở lên;

đ) Thực phẩm có sử dụng nguyên liệu là động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

e) Thực phẩm có sử dụng chất, hóa chất, kháng sinh, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, phụ gia thực phẩm hoặc chất hỗ trợ chế biến thực phẩm chưa được phép sử dụng hoặc chưa được phép lưu hành tại Việt Nam trị giá 1.000.000.000 đồng trở lên hoặc thu lợi bất chính 500.000.000 đồng trở lên.

Khoản 5: Hình phạt bổ sung:

Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.


✅ III. Yếu tố cấu thành tội phạm

Để khởi tố theo Điều 317 của Bộ luật Hình sự 2015, cơ quan điều tra không chỉ chứng minh có “thực phẩm bẩn”, mà phải làm rõ đủ 4 yếu tố cấu thành tội phạm. Đây là ranh giới pháp lý quyết định giữa xử phạt hành chính và truy cứu trách nhiệm hình sự.

Dưới đây là phân tích theo cấu trúc chuẩn của luật hình sự, kèm góc nhìn thực tiễn áp dụng.


1️⃣ Chủ thể – Ai có thể bị truy cứu?

Cá nhân:
Người từ đủ 16 tuổi, có năng lực trách nhiệm hình sự, trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia vào hoạt động sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm.

Pháp nhân thương mại:
Doanh nghiệp có thể bị truy cứu nếu hành vi:

  • Thực hiện nhân danh pháp nhân

  • Vì lợi ích của pháp nhân

  • Có sự chỉ đạo hoặc chấp thuận từ người quản lý

Trong thực tế, nhiều vụ án an toàn thực phẩm không dừng ở cá nhân quản lý cơ sở, mà mở rộng đến công ty tổ chức sản xuất có hệ thống. Việc xác định đúng chủ thể giúp tránh tình trạng “đổ lỗi cho nhân viên” để né trách nhiệm hình sự.


2️⃣ Mặt khách quan – Hành vi cụ thể nào bị xử lý hình sự?

Điều luật không xử lý mọi vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm, mà tập trung vào các hành vi có tính nguy hiểm đáng kể cho xã hội.

Các hành vi điển hình gồm:

  • Sử dụng nguyên liệu, phụ gia bị cấm

  • Sản xuất thực phẩm không rõ nguồn gốc

  • Kinh doanh thực phẩm đã hư hỏng, hết hạn

  • Che giấu thông tin gây hiểu nhầm về chất lượng

Tuy nhiên, yếu tố quyết định không chỉ nằm ở hành vi, mà ở mức độ hậu quả hoặc lợi ích thu được. Nếu chưa đạt ngưỡng định lượng theo điều luật, hành vi có thể chỉ bị xử phạt hành chính theo quy định chuyên ngành.

Đây là điểm mấu chốt mà nhiều bài báo không phân tích sâu: vi phạm ≠ tội phạm.


3️⃣ Mặt chủ quan – Yếu tố lỗi cố ý

Điều 317 được thực hiện do lỗi cố ý.

Cơ quan tố tụng phải chứng minh người thực hiện hành vi:

  • Biết rõ thực phẩm không bảo đảm an toàn

  • Nhận thức được khả năng gây hại

  • Nhưng vẫn thực hiện vì mục đích lợi nhuận

Trong thực tiễn, tranh luận pháp lý thường xoay quanh việc chứng minh “biết rõ”.
Ví dụ: Chủ cơ sở có kiểm tra nguyên liệu hay không? Có hồ sơ kiểm nghiệm? Có cảnh báo trước đó từ cơ quan chức năng?

Nếu không chứng minh được yếu tố chủ quan này, việc định tội sẽ thiếu căn cứ vững chắc.


4️⃣ Hậu quả – Yếu tố định khung hình phạt

Hậu quả là yếu tố quyết định mức độ xử lý.

Có thể bao gồm:

  • Gây tổn hại sức khỏe một hoặc nhiều người

  • Gây ngộ độc thực phẩm hàng loạt

  • Gây chết người

  • Thu lợi bất chính lớn

Mức độ hậu quả càng nghiêm trọng, khung hình phạt càng tăng nặng, có thể lên đến 20 năm tù đối với trường hợp đặc biệt nghiêm trọng.

Trong thực tế xét xử, việc giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể, xác định mối quan hệ nhân quả giữa thực phẩm và hậu quả sức khỏe là khâu quan trọng nhất.


5.Góc nhìn thực tiễn áp dụng

Qua các vụ án liên quan đến thực phẩm kém chất lượng, có thể thấy:

  • Cơ quan điều tra tập trung chứng minh chuỗi hành vi từ nguồn nguyên liệu đến khâu phân phối

  • Hồ sơ chứng từ, sổ sách kế toán và kết quả kiểm nghiệm đóng vai trò quyết định

  • Việc thu lợi bất chính thường được tính dựa trên tổng doanh thu từ lô hàng vi phạm

Điều này cho thấy, trong các vụ án theo Điều 317, chứng cứ tài liệu và giám định chuyên môn có giá trị then chốt.


✅ IV Khung hình phạt Điều 317 BLHS

Khi phân tích khung hình phạt tội vi phạm an toàn thực phẩm, cần nhìn theo cấu trúc từng khoản của Điều 317 thuộc Bộ luật Hình sự 2015, thay vì chỉ nêu “tối đa 20 năm tù”.

Thực tế áp dụng cho thấy, việc xác định đúng khoản nào phụ thuộc vào mức độ hậu quả, số người bị ảnh hưởng, giá trị thu lợi bất chính và tính chất tổ chức của hành vi.


1. Khoản 1 – Khung cơ bản (01–05 năm tù)

Áp dụng khi hành vi đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm nhưng hậu quả ở mức khởi điểm theo luật định.

Hình phạt chính có thể là:

  • Phạt tiền từ 50 triệu đến 200 triệu đồng; hoặc

  • Phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

Trong thực tiễn, khung này thường áp dụng khi:

  • Gây tổn hại sức khỏe nhưng chưa ở mức nghiêm trọng nhiều người

  • Giá trị thu lợi bất chính chưa lớn

  • Không có yếu tố tổ chức chuyên nghiệp

Đây là giai đoạn chuyển từ xử phạt hành chính sang xử lý hình sự.


2. Khoản 2 – Khung tăng nặng (03–10 năm tù)

Áp dụng khi xuất hiện một trong các tình tiết định khung tăng nặng như:

  • Gây tổn hại sức khỏe cho nhiều người

  • Gây thiệt hại tài sản lớn

  • Thu lợi bất chính cao

  • Phạm tội có tổ chức

  • Tái phạm nguy hiểm

Mức hình phạt:

  • Phạt tù từ 03 năm đến 10 năm.

Ở khung này, cơ quan tố tụng thường đánh giá hành vi có tính hệ thống, quy mô lớn hoặc có dấu hiệu trục lợi đáng kể.


3. Khoản 3 – Khung đặc biệt nghiêm trọng (07–20 năm tù)

Đây là khung cao nhất của Điều 317.

Áp dụng khi:

  • Làm chết người

  • Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khác

  • Thu lợi bất chính rất lớn

Mức phạt tù cao nhất của tội vi phạm an toàn thực phẩm là 20 năm tù.

Tuy nhiên, mức tối đa chỉ được áp dụng khi hậu quả và mức độ nguy hiểm đạt ngưỡng cao nhất theo đánh giá của tòa án.


4. Bảng so sánh: Hậu quả – Khung hình phạt – Điều kiện áp dụng

Mức độ hậu quả Điều kiện áp dụng Khung hình phạt
Vi phạm gây thiệt hại cho sức khỏe hoặc thu lợi bất chính đạt ngưỡng truy cứu Có đủ yếu tố cấu thành tội phạm; chưa có tình tiết tăng nặng đặc biệt Phạt tiền 50–200 triệu hoặc tù 1–5 năm
Gây tổn hại sức khỏe nhiều người; thu lợi lớn; có tổ chức; tái phạm nguy hiểm Có tình tiết tăng nặng theo khoản 2 Tù 3–10 năm
Gây chết người; hậu quả đặc biệt nghiêm trọng; thu lợi rất lớn Hậu quả ở mức đặc biệt nghiêm trọng theo khoản 3 Tù 7–20 năm
Bổ sung Áp dụng kèm hình phạt chính Phạt tiền 20–100 triệu; cấm hành nghề 1–5 năm

5. Phạt tiền bao nhiêu?

Ngoài hình phạt tù, người phạm tội còn có thể bị:

  • Phạt tiền bổ sung từ 20 triệu đến 100 triệu đồng

  • Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề từ 01 đến 05 năm

Với pháp nhân thương mại, mức phạt tiền có thể rất lớn, kèm theo đình chỉ hoạt động có thời hạn hoặc vĩnh viễn.

Trong thực tế xét xử, tòa án sẽ cân nhắc:

  • Quy mô hoạt động

  • Thời gian vi phạm

  • Số lượng sản phẩm đưa ra thị trường

  • Mức độ hợp tác khắc phục hậu quả


6. Phân biệt rõ: Không phải mọi vi phạm đều bị phạt tù

Một điểm cần nhấn mạnh:
Vi phạm quy định về an toàn thực phẩm chỉ bị xử lý hình sự khi đủ yếu tố cấu thành tội phạm và đạt ngưỡng hậu quả theo Điều 317.

Nếu chưa đến mức này, hành vi sẽ bị xử phạt theo quy định hành chính chuyên ngành.

Việc phân định đúng ranh giới giúp:

  • Tránh áp dụng sai tội danh

  • Đảm bảo nguyên tắc suy đoán vô tội

  • Hạn chế hình sự hóa quan hệ kinh tế – thương mại


7. Tóm lại

  • Khung hình phạt tội vi phạm an toàn thực phẩm gồm 3 mức: 01–05 năm, 03–10 năm, 07–20 năm tù.

  • Mức phạt tù cao nhất là 20 năm.

  • Có thể bị phạt tiền bổ sung và cấm hành nghề.

  • Pháp nhân thương mại cũng có thể bị truy cứu.

✅V. Cách xác định thu lợi bất chính trong vụ án “thực phẩm bẩn”

Trong các vụ án theo Điều 317 của Bộ luật Hình sự 2015, “thu lợi bất chính” là căn cứ quan trọng để định tội và định khung hình phạt. Không phải mọi khoản doanh thu đều được tính; cơ quan tố tụng phải xác định đúng khoản lợi ích có được từ hành vi vi phạm.


1) Hiểu đúng khái niệm

Thu lợi bất chính là khoản lợi ích vật chất mà người phạm tội thu được do thực hiện hành vi sản xuất, kinh doanh thực phẩm không bảo đảm an toàn.
Khoản này có thể là tiền, tài sản hoặc lợi ích quy đổi được thành tiền.

Điểm cốt lõi: phải chứng minh mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và khoản lợi thu được.


2) Nguyên tắc tính toán (thực tiễn áp dụng)

Cơ quan điều tra thường làm rõ 3 nhóm dữ liệu:

(i) Quy mô hàng hóa vi phạm

  • Số lượng lô hàng, khối lượng sản phẩm đã sản xuất/đưa ra thị trường

  • Thời gian vi phạm

  • Giá bán thực tế

(ii) Doanh thu từ hàng vi phạm

  • Tổng tiền thu được từ việc tiêu thụ sản phẩm không bảo đảm an toàn

  • Chứng từ bán hàng, hóa đơn, sổ sách kế toán, dữ liệu ngân hàng

(iii) Chi phí hợp lý được trừ

  • Nguyên liệu, vận chuyển, nhân công

  • Chi phí sản xuất hợp pháp

➡️ Thực tiễn xét xử thường xác định thu lợi bất chính = doanh thu từ hàng vi phạm – chi phí hợp lý trực tiếp tạo ra hàng vi phạm.

Không trừ các chi phí bất hợp pháp hoặc không chứng minh được bằng chứng từ.


3) Các tình huống thường gây tranh luận

a) Doanh thu hay lợi nhuận?
Không phải toàn bộ doanh thu đều là thu lợi bất chính. Tòa án thường xem xét phần lợi nhuận thực tế thu được.

b) Hàng chưa bán có tính không?
Nếu chưa tiêu thụ, thường không tính là thu lợi; nhưng có thể được xem xét khi đánh giá mức độ nguy hiểm của hành vi.

c) Không có sổ sách kế toán rõ ràng?
Cơ quan điều tra có thể:

  • Trưng cầu giám định tài chính

  • Đối chiếu giá thị trường

  • Ước tính dựa trên số lượng nguyên liệu đầu vào


4) Ảnh hưởng đến khung hình phạt

Giá trị thu lợi bất chính càng cao thì khả năng áp dụng khung tăng nặng càng lớn.

Trong nhiều vụ án thực phẩm kém chất lượng quy mô lớn, việc chứng minh thu lợi bất chính ở mức cao là căn cứ để chuyển từ khung cơ bản sang khung tăng nặng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

Đây là lý do vì sao phần giám định tài chính – kế toán có vai trò quyết định trong hồ sơ vụ án.


5) Góc nhìn thực tiễn bào chữa

Từ kinh nghiệm thực tiễn tố tụng, các điểm thường được tranh luận gồm:

  • Khoản chi phí nào được coi là hợp lý để khấu trừ?

  • Có toàn bộ sản phẩm đều vi phạm hay chỉ một phần lô hàng?

  • Doanh thu thực tế có đúng như kết luận điều tra?

Nếu không chứng minh được chính xác giá trị thu lợi bất chính, việc áp dụng khung hình phạt cao hơn có thể thiếu căn cứ vững chắc.


6) Tóm lại

  • Thu lợi bất chính là lợi ích vật chất thu được từ hành vi vi phạm.

  • Thường tính theo lợi nhuận thực tế, không phải toàn bộ doanh thu.

  • Là yếu tố quan trọng để định khung hình phạt theo Điều 317.


✅ VI. Trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại

Trong các vụ án “thực phẩm bẩn” quy mô lớn, chủ thể vi phạm thường không chỉ là cá nhân mà là doanh nghiệp tổ chức sản xuất – phân phối có hệ thống. Vì vậy, việc áp dụng trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại theo Điều 317 của Bộ luật Hình sự 2015 mang ý nghĩa răn đe và phòng ngừa đặc biệt quan trọng.

Phần nội dung này giúp làm rõ: khi nào doanh nghiệp bị truy cứu, mức phạt cụ thể ra sao và hệ quả pháp lý kéo dài thế nào.


1. Điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân

Không phải mọi vi phạm của nhân viên đều khiến doanh nghiệp bị truy cứu. Pháp luật chỉ xử lý hình sự pháp nhân khi đồng thời có đủ các điều kiện:

  1. Hành vi được thực hiện nhân danh pháp nhân

  2. lợi ích của pháp nhân

  3. Có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của người quản lý

  4. Hành vi thuộc danh mục tội danh mà pháp nhân phải chịu trách nhiệm

Trong thực tiễn, điểm khó nhất là chứng minh yếu tố “vì lợi ích của pháp nhân”.
Ví dụ: nếu doanh nghiệp hưởng lợi trực tiếp từ việc cắt giảm chi phí bằng cách sử dụng nguyên liệu kém chất lượng, đây là căn cứ quan trọng để truy cứu.

Ngược lại, nếu nhân viên tự ý thực hiện sai phạm ngoài quy trình kiểm soát và doanh nghiệp không hưởng lợi, trách nhiệm hình sự của pháp nhân có thể không được đặt ra.


2.Mức phạt tiền – Hình phạt chính đối với pháp nhân

Khác với cá nhân bị áp dụng hình phạt tù, pháp nhân thương mại bị xử lý bằng phạt tiền là hình phạt chính.

Mức phạt tiền có thể lên tới hàng tỷ đồng, tùy thuộc:

  • Tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi

  • Hậu quả thực tế xảy ra

  • Lợi ích thu được từ hành vi vi phạm

  • Quy mô hoạt động của doanh nghiệp

Trong nhiều vụ án thực phẩm kém chất lượng, cơ quan tố tụng căn cứ vào tổng doanh thu của lô hàng vi phạm để xác định mức phạt và lợi ích bất chính.

Việc phạt tiền ở mức cao nhằm đảm bảo nguyên tắc:

Không để doanh nghiệp “coi tiền phạt là chi phí kinh doanh”.


3.Đình chỉ hoạt động – Hệ quả có thể làm doanh nghiệp ngừng tồn tại

Ngoài phạt tiền, tòa án có thể áp dụng:

  • Đình chỉ hoạt động có thời hạn

  • Đình chỉ hoạt động vĩnh viễn

Đình chỉ có thời hạn thường áp dụng khi doanh nghiệp vẫn có khả năng khắc phục hậu quả.
Đình chỉ vĩnh viễn được áp dụng nếu hành vi gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng hoặc doanh nghiệp được thành lập chỉ để thực hiện hành vi phạm tội.

Đây là chế tài có tác động lớn hơn nhiều so với phạt tiền, vì ảnh hưởng trực tiếp đến thương hiệu, đối tác, hợp đồng và toàn bộ chuỗi cung ứng.


4.Cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong lĩnh vực nhất định

Tòa án có thể cấm pháp nhân:

  • Kinh doanh trong lĩnh vực thực phẩm

  • Huy động vốn

  • Thực hiện một số hoạt động liên quan đến sản xuất, phân phối

Thời hạn cấm có thể kéo dài nhiều năm, tùy mức độ vi phạm.

Trong thực tế, lệnh cấm này thường kéo theo:

  • Mất giấy phép kinh doanh ngành nghề có điều kiện

  • Ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín và khả năng phục hồi thị trường


5. So sánh trách nhiệm hình sự: Cá nhân vs Pháp nhân thương mại

(Theo Điều 317 của Bộ luật Hình sự 2015)

Tiêu chí Cá nhân Pháp nhân thương mại
Chủ thể áp dụng Người từ đủ 16 tuổi, có năng lực trách nhiệm hình sự Doanh nghiệp được thành lập hợp pháp
Điều kiện truy cứu Có hành vi vi phạm + lỗi cố ý + hậu quả đạt ngưỡng hình sự Hành vi thực hiện nhân danh pháp nhân, vì lợi ích pháp nhân, có chỉ đạo/chấp thuận
Hình phạt chính Phạt tiền hoặc phạt tù Phạt tiền
Mức phạt tù cao nhất Lên đến 20 năm tù Không áp dụng
Mức phạt tiền 50–200 triệu (khung cơ bản) + phạt bổ sung 20–100 triệu Có thể lên đến nhiều tỷ đồng tùy mức độ
Hình phạt bổ sung Cấm hành nghề, cấm đảm nhiệm chức vụ Cấm kinh doanh, cấm huy động vốn, đình chỉ hoạt động
Đình chỉ hoạt động Không áp dụng Có thể đình chỉ có thời hạn hoặc vĩnh viễn
Tác động pháp lý Ảnh hưởng trực tiếp đến tự do cá nhân Ảnh hưởng đến sự tồn tại và hoạt động của doanh nghiệp

5.1.Điểm khác biệt

  • Cá nhân chịu trách nhiệm bằng tự do thân thể (tù giam).

  • Pháp nhân chịu trách nhiệm bằng tài sản và quyền kinh doanh.

  • Việc xử lý pháp nhân không loại trừ trách nhiệm của cá nhân quản lý liên quan.

Trong thực tiễn, nhiều vụ án thực phẩm bẩn bị xử lý đồng thời cả giám đốc công ty và doanh nghiệp.


5.2.Tóm lại

  • Cá nhân có thể bị phạt tù đến 20 năm.

  • Pháp nhân không bị phạt tù nhưng có thể bị phạt tiền lớn, đình chỉ hoặc cấm kinh doanh.

  • Hai chế định trách nhiệm này có thể áp dụng song song.

6.Góc nhìn thực tiễn và phòng ngừa rủi ro pháp lý

Qua thực tiễn xét xử các vụ án liên quan đến an toàn thực phẩm, có thể thấy:

  • Cơ quan điều tra đặc biệt chú trọng hồ sơ kiểm soát chất lượng nội bộ

  • Quy trình truy xuất nguồn gốc là yếu tố then chốt

  • Việc không thiết lập hệ thống kiểm soát rủi ro có thể bị coi là biểu hiện chấp thuận ngầm

Do đó, doanh nghiệp trong lĩnh vực thực phẩm cần:

  • Xây dựng quy trình kiểm soát chất lượng chặt chẽ

  • Lưu trữ đầy đủ hồ sơ kiểm nghiệm

  • Thiết lập cơ chế giám sát nội bộ rõ ràng

Việc phòng ngừa không chỉ để tránh xử phạt hành chính, mà còn để tránh nguy cơ truy cứu trách nhiệm hình sự – vốn có thể dẫn đến đình chỉ hoặc chấm dứt hoạt động.


7.Tóm lại

  • Pháp nhân thương mại có thể bị truy cứu hình sự nếu hành vi vi phạm vì lợi ích doanh nghiệp.

  • Hình phạt chính là phạt tiền, có thể lên đến mức rất cao.

  • Có thể bị đình chỉ hoạt động hoặc cấm kinh doanh trong lĩnh vực thực phẩm.


✅ VII Phân biệt xử phạt hành chính và hình sự

Trong thực tiễn tư vấn, câu hỏi thường gặp nhất là: “Bị phát hiện thực phẩm không đạt chuẩn có bị đi tù không?”
Câu trả lời phụ thuộc vào việc hành vi đó dừng ở mức vi phạm hành chính hay đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm theo Điều 317 của Bộ luật Hình sự 2015.

Việc phân biệt đúng có ý nghĩa quyết định đối với hướng xử lý, mức chế tài và hệ quả pháp lý lâu dài.


1.Căn cứ pháp lý và bản chất xử lý

Xử phạt hành chính áp dụng đối với hành vi vi phạm quy định quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm nhưng chưa đạt mức độ nguy hiểm cho xã hội để xử lý hình sự.

Truy cứu trách nhiệm hình sự chỉ đặt ra khi hành vi thỏa mãn đầy đủ 4 yếu tố cấu thành tội phạm và đạt ngưỡng định lượng hoặc hậu quả nghiêm trọng theo luật hình sự.

Điểm khác biệt cốt lõi nằm ở:
➡️ Mức độ nguy hiểm cho xã hội và hậu quả thực tế xảy ra.


2. So sánh chi tiết theo từng tiêu chí pháp lý

1️⃣ Mức độ nguy hiểm cho xã hội

Vi phạm hành chính thường là:

  • Không đáp ứng điều kiện vệ sinh

  • Thiếu giấy phép, công bố chất lượng

  • Ghi nhãn chưa đúng quy định

Những hành vi này có thể bị phạt tiền, tịch thu hàng hóa, đình chỉ kinh doanh nhưng chưa đủ cơ sở để coi là tội phạm.

Ngược lại, xử lý hình sự áp dụng khi hành vi tiềm ẩn hoặc đã gây nguy cơ thực tế đối với sức khỏe, tính mạng cộng đồng ở mức nghiêm trọng.


2️⃣ Hậu quả thực tế

Hậu quả là yếu tố phân định rõ ràng nhất.

  • Nếu sản phẩm không đạt chuẩn nhưng chưa gây thiệt hại → thường xử lý hành chính.

  • Nếu gây ngộ độc, tổn hại sức khỏe nhiều người, hoặc làm chết người → có thể bị khởi tố.

Trong thực tiễn điều tra, cơ quan tố tụng phải chứng minh mối quan hệ nhân quả trực tiếp giữa thực phẩm vi phạm và thiệt hại sức khỏe.

Nếu không chứng minh được quan hệ này, việc truy cứu hình sự sẽ không đủ căn cứ.


3️⃣ Giá trị thiệt hại và thu lợi bất chính

Một số trường hợp chưa gây hậu quả về sức khỏe nhưng:

  • Thu lợi bất chính lớn

  • Phạm tội có tổ chức

  • Tái phạm nguy hiểm

vẫn có thể bị xử lý hình sự nếu đạt ngưỡng định lượng theo luật.

Đây là điểm khác biệt quan trọng:
Không cần phải có người chết mới cấu thành tội phạm.


4️⃣ Yếu tố lỗi

Đây là tiêu chí pháp lý mang tính quyết định.

  • Hành chính: có thể xử lý cả lỗi vô ý (thiếu kiểm soát, thiếu điều kiện bảo quản).

  • Hình sự: bắt buộc phải chứng minh lỗi cố ý.

Cơ quan điều tra phải làm rõ:

  • Chủ cơ sở có biết nguyên liệu không bảo đảm an toàn không?

  • Có cảnh báo từ cơ quan chức năng trước đó không?

  • Có cố tình che giấu thông tin về chất lượng không?

Nếu không chứng minh được yếu tố cố ý, không đủ căn cứ truy cứu hình sự.


3. Hệ quả pháp lý sau xử lý

Tiêu chí Xử phạt hành chính Truy cứu hình sự
Án tích Không
Ảnh hưởng nhân thân Hạn chế Rất nghiêm trọng
Khả năng tiếp tục kinh doanh Có thể khắc phục và hoạt động lại Có thể bị cấm hành nghề, đình chỉ dài hạn

Án tích là yếu tố có tác động lâu dài đến cá nhân và doanh nghiệp, đặc biệt trong hoạt động kinh doanh thực phẩm.


4.Góc nhìn thực tiễn áp dụng

Qua nhiều vụ việc được công khai, có thể rút ra:

  • Không phải mọi “thực phẩm bẩn” đều bị khởi tố hình sự.

  • Quyết định khởi tố phụ thuộc vào kết quả giám định, mức độ thiệt hại và chứng cứ chứng minh lỗi cố ý.

  • Ranh giới giữa hành chính và hình sự nhiều khi nằm ở hồ sơ chứng từ, quy trình kiểm soát nội bộ và tài liệu kế toán.

Do đó, trong trường hợp bị kiểm tra hoặc điều tra, việc đánh giá đúng bản chất pháp lý của hành vi là bước quan trọng để xác định hướng xử lý phù hợp.


5.Kết luận

  • Vi phạm chưa gây hậu quả nghiêm trọng → xử phạt hành chính.

  • Gây tổn hại sức khỏe, chết người hoặc thu lợi lớn → có thể truy cứu hình sự theo Điều 317.

  • Hình sự bắt buộc phải có lỗi cố ý và đủ yếu tố cấu thành tội phạm.

Phân biệt rõ hai cơ chế này giúp doanh nghiệp và cá nhân hiểu đúng rủi ro pháp lý, tránh tâm lý hoang mang hoặc chủ quan khi hoạt động trong lĩnh vực thực phẩm.


✅ VIII. Các tình tiết tăng nặng – giảm nhẹ thường gặp

Trong thực tiễn xét xử theo Điều 317 của Bộ luật Hình sự 2015, mức án cụ thể không chỉ phụ thuộc vào hậu quả hay giá trị thu lợi bất chính. Tòa án còn phải cân nhắc các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt trong từng trường hợp cụ thể.

Đây là phần nhiều bài viết báo chí bỏ qua, nhưng lại có ý nghĩa quyết định đến việc người phạm tội phải chịu mức án bao nhiêu năm tù.


1.Các tình tiết tăng nặng thường gặp

1️⃣ Phạm tội có tổ chức

Đây là tình tiết tăng nặng thể hiện mức độ nguy hiểm cao.

Dấu hiệu pháp lý thường bao gồm:

  • Có sự bàn bạc, thống nhất trước khi thực hiện hành vi

  • Có phân công vai trò giữa các cá nhân (người thu mua nguyên liệu, người sản xuất, người phân phối…)

  • Hoạt động có tính hệ thống, kéo dài

Trong các vụ án thực phẩm bẩn quy mô lớn, việc tổ chức sản xuất và phân phối qua nhiều kênh thường khiến hành vi bị đánh giá nghiêm trọng hơn so với vi phạm đơn lẻ.


2️⃣ Tái phạm, tái phạm nguy hiểm

Tình tiết này áp dụng khi:

  • Người phạm tội đã từng bị kết án mà chưa được xóa án tích

  • Hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi tương tự nhưng tiếp tục vi phạm

Tái phạm cho thấy sự coi thường pháp luật và làm tăng khả năng áp dụng mức hình phạt cao hơn trong khung.


3️⃣ Phạm tội nhiều lần hoặc kéo dài

Nếu hành vi vi phạm:

  • Diễn ra liên tục trong thời gian dài

  • Với số lượng hàng hóa lớn

  • Ảnh hưởng đến nhiều địa phương

Tòa án có thể đánh giá đây là tình tiết phản ánh mức độ nguy hiểm tăng thêm, đặc biệt khi hành vi nhằm mục đích thu lợi ổn định, lâu dài.


4️⃣ Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng

Ví dụ:

  • Làm chết nhiều người

  • Gây tổn hại sức khỏe hàng loạt

  • Thu lợi bất chính rất lớn

Trong những trường hợp này, mức án có thể tiệm cận mức tối đa của khung hình phạt, thậm chí ở mức cao nhất mà điều luật cho phép.


2.Các tình tiết giảm nhẹ thường gặp

1️⃣ Tự nguyện khắc phục hậu quả

Đây là tình tiết có giá trị thực tế lớn.

Bao gồm:

  • Chủ động bồi thường thiệt hại

  • Thu hồi sản phẩm vi phạm trước khi gây hậu quả lan rộng

  • Hỗ trợ chi phí điều trị cho người bị hại

Việc khắc phục sớm và đầy đủ có thể giúp người phạm tội được áp dụng mức án thấp hơn trong khung.


2️⃣ Thành khẩn khai báo, hợp tác điều tra

Thái độ hợp tác với cơ quan tiến hành tố tụng thường được xem xét là tình tiết giảm nhẹ, đặc biệt khi:

  • Cung cấp tài liệu, chứng cứ quan trọng

  • Giúp làm rõ vai trò của các đồng phạm

Tuy nhiên, thành khẩn không đồng nghĩa với miễn trách nhiệm hình sự, mà chỉ ảnh hưởng đến mức hình phạt.


3️⃣ Lần đầu phạm tội, nhân thân tốt

Nếu người phạm tội:

  • Chưa có tiền án, tiền sự

  • Có nơi cư trú rõ ràng

  • Có quá trình lao động ổn định

Tòa án có thể cân nhắc mức án ở ngưỡng thấp của khung hình phạt.


4️⃣ Hoàn cảnh đặc biệt

Trong một số trường hợp, hoàn cảnh gia đình khó khăn hoặc phụ thuộc kinh tế có thể được xem xét, nhưng không làm thay đổi bản chất hành vi phạm tội.


3.Ảnh hưởng thực tế đến mức án

Các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ:

  • Không làm thay đổi việc định tội

  • Nhưng ảnh hưởng trực tiếp đến mức hình phạt cụ thể trong khung

Ví dụ: cùng thuộc khung 1–5 năm tù, mức án có thể là 1 năm nếu có nhiều tình tiết giảm nhẹ, hoặc 4–5 năm nếu có tình tiết tăng nặng.

Đối với pháp nhân thương mại, các tình tiết này cũng ảnh hưởng đến:

  • Mức phạt tiền

  • Thời hạn đình chỉ hoạt động

  • Thời gian cấm kinh doanh


4.Kết luận

  • Tăng nặng: phạm tội có tổ chức, tái phạm, gây hậu quả nghiêm trọng.

  • Giảm nhẹ: khắc phục hậu quả, thành khẩn khai báo, nhân thân tốt.

  • Đây là yếu tố quyết định mức án cụ thể trong từng vụ án theo Điều 317.

Việc đánh giá đầy đủ các tình tiết này giúp xác định chính xác mức độ trách nhiệm hình sự, tránh cách hiểu đơn giản rằng “khung bao nhiêu năm thì chắc chắn bị mức đó”.

Đây là câu hỏi được tìm kiếm rất nhiều sau khi người đọc biết rằng mức phạt tù cao nhất có thể lên đến 20 năm. Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp vi phạm quy định về an toàn thực phẩm đều phải chấp hành hình phạt tù giam.

Theo quy định của Bộ luật Hình sự 2015, người bị kết án tù có thể được hưởng án treo nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện luật định và Tòa án xét thấy không cần thiết phải cách ly khỏi xã hội.

Dưới đây là phân tích theo hướng thực tiễn xét xử.


✅IX. Có được hưởng án treo khi phạm tội theo Điều 317 không?

1. Điều kiện pháp lý để được hưởng án treo

Án treo không áp dụng tự động. Người phạm tội phải đồng thời đáp ứng các tiêu chí sau:

1️⃣ Mức hình phạt không quá 03 năm tù

Đây là điều kiện tiên quyết.

  • Nếu Tòa tuyên phạt 1 năm, 2 năm hoặc 3 năm tù → có thể xem xét án treo

  • Nếu tuyên trên 3 năm → không đủ điều kiện

Lưu ý: không phải “thuộc khung 1–5 năm” là được án treo, mà phụ thuộc vào mức án cụ thể mà Tòa tuyên.


2️⃣ Nhân thân tốt

Tòa án đánh giá toàn diện:

  • Có tiền án, tiền sự hay không

  • Có vi phạm hành chính trước đó không

  • Có nơi cư trú rõ ràng

  • Có quá trình lao động, sinh sống ổn định

Người đã từng bị xử phạt về hành vi tương tự thường khó được hưởng án treo.


3️⃣ Có nhiều tình tiết giảm nhẹ

Thực tiễn cho thấy, khả năng hưởng án treo cao hơn khi có:

  • Tự nguyện khắc phục hậu quả

  • Bồi thường đầy đủ thiệt hại

  • Thành khẩn khai báo

  • Lần đầu phạm tội

Nếu đồng thời có tình tiết tăng nặng như phạm tội có tổ chức hoặc tái phạm nguy hiểm, khả năng án treo gần như không còn.


4️⃣ Không cần thiết phải cách ly khỏi xã hội

Đây là điều kiện mang tính đánh giá tổng hợp.

Tòa án sẽ xem xét:

  • Mức độ nguy hiểm của hành vi

  • Khả năng tái phạm

  • Ảnh hưởng đến trật tự xã hội

Nếu xét thấy việc cải tạo ngoài xã hội vẫn đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa, án treo có thể được áp dụng.


2. Áp dụng thực tế đối với Điều 317

Đối với tội vi phạm an toàn thực phẩm:

a)Trường hợp khó được hưởng án treo

  • Gây chết người

  • Gây ngộ độc hàng loạt

  • Thu lợi bất chính rất lớn

  • Phạm tội có tổ chức quy mô lớn

Những trường hợp này thường thuộc khung hình phạt cao và mức án vượt quá 3 năm.


b) Trường hợp có thể được xem xét

  • Thuộc khung cơ bản

  • Hậu quả hạn chế

  • Đã khắc phục toàn bộ thiệt hại

  • Nhân thân tốt, lần đầu vi phạm

Đặc biệt với cơ sở kinh doanh nhỏ lẻ, nếu không có yếu tố tổ chức và đã chủ động thu hồi sản phẩm vi phạm, khả năng được áp dụng án treo sẽ cao hơn.


3. Hệ quả pháp lý của án treo

Nhiều người hiểu nhầm rằng án treo là “trắng án”. Thực tế:

  • Người được hưởng án treo vẫn có án tích

  • Phải chấp hành thời gian thử thách

  • Nếu vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách, có thể bị buộc chấp hành án tù

Do đó, án treo chỉ là hình thức miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, không phải miễn trách nhiệm hình sự.


4. Góc nhìn thực tiễn

Trong các vụ án liên quan đến thực phẩm, yếu tố khắc phục hậu quả và thái độ hợp tác điều tra có tác động lớn đến việc lượng hình.

Việc chuẩn bị hồ sơ nhân thân, tài liệu chứng minh bồi thường, thiện chí sửa sai… có thể ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng được hưởng án treo.


5. Kết luận trọng tâm

  • Tội vi phạm an toàn thực phẩm vẫn có thể được hưởng án treo nếu mức án không quá 3 năm và đáp ứng đủ điều kiện.

  • Hậu quả nghiêm trọng, tái phạm hoặc phạm tội có tổ chức làm giảm đáng kể khả năng này.

  • Án treo không phải miễn tội mà chỉ là miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện.


✅ X. Quy trình điều tra – khởi tố – truy tố

Khi một cá nhân hoặc cơ sở kinh doanh bị nghi ngờ vi phạm quy định về an toàn thực phẩm theo Điều 317 của Bộ luật Hình sự 2015, vụ việc sẽ trải qua quy trình tố tụng hình sự chặt chẽ theo Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015. Dưới đây là các bước quan trọng người bị điều tra cần nắm rõ.


1. Cơ quan có thẩm quyền xử lý

Tùy tính chất vụ việc, thẩm quyền thường thuộc về:

1.1. Cơ quan điều tra Công an cấp huyện hoặc cấp tỉnh

  • Thụ lý khi có dấu hiệu tội phạm

  • Ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can

  • Tiến hành lấy lời khai, khám xét, trưng cầu giám định

1.2. Viện kiểm sát nhân dân

  • Phê chuẩn các quyết định tố tụng

  • Kiểm sát hoạt động điều tra

  • Ban hành cáo trạng truy tố

1.3. Tòa án nhân dân

  • Xét xử và tuyên án

  • Quyết định mức hình phạt, án treo (nếu có)

Trong các vụ việc liên quan thực phẩm bẩn quy mô lớn, liên tỉnh hoặc gây hậu quả nghiêm trọng, thẩm quyền thường thuộc cơ quan điều tra cấp tỉnh.


2. Trình tự các giai đoạn tố tụng

2.1.Giai đoạn 1: Khởi tố vụ án

Quá trình bắt đầu khi:

  • Có tố giác tội phạm

  • Có kết luận kiểm nghiệm thực phẩm vi phạm

  • Hoặc qua hoạt động thanh tra, kiểm tra phát hiện dấu hiệu hình sự

Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố vụ án nếu có căn cứ cho rằng hành vi có dấu hiệu cấu thành tội phạm theo Điều 317.


2.2.Giai đoạn 2: Khởi tố bị can và điều tra

Sau khi xác định được người thực hiện hành vi:

  • Ra quyết định khởi tố bị can

  • Áp dụng biện pháp ngăn chặn (cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm giam…) nếu cần thiết

  • Thu thập chứng cứ, định lượng thiệt hại

  • Trưng cầu giám định chất lượng thực phẩm

Thời hạn điều tra

Theo luật tố tụng hình sự:

  • Tội ít nghiêm trọng: tối đa 2 tháng (có thể gia hạn)

  • Tội nghiêm trọng: tối đa 3 tháng (có thể gia hạn nhiều lần theo luật định)

  • Tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng: thời hạn dài hơn, có thể gia hạn nhưng phải được Viện kiểm sát phê chuẩn

Thực tế, nhiều vụ án thực phẩm kéo dài do phải chờ kết luận giám định và xác định hậu quả.


2.3.Giai đoạn 3: Truy tố

Khi kết thúc điều tra:

  • Cơ quan điều tra đề nghị truy tố

  • Viện kiểm sát xem xét hồ sơ

  • Nếu đủ căn cứ → ban hành cáo trạng chuyển sang Tòa án

Nếu thấy chưa đủ chứng cứ, Viện kiểm sát có thể trả hồ sơ điều tra bổ sung.


3. Quyền của người bị buộc tội

Dù bị khởi tố theo Điều 317, người bị buộc tội vẫn được pháp luật bảo đảm quyền cơ bản:

✔️ Quyền được biết mình bị buộc tội về hành vi gì

✔️ Quyền trình bày lời khai, đưa ra chứng cứ, tài liệu bào chữa

✔️ Quyền nhờ luật sư ngay từ giai đoạn điều tra

✔️ Quyền khiếu nại quyết định tố tụng

✔️ Quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình

Việc mời luật sư sớm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong các vụ án thực phẩm, vì:

  • Cần kiểm tra tính hợp pháp của hoạt động kiểm tra, lấy mẫu

  • Cần đánh giá lại kết luận giám định

  • Cần xác định đúng vai trò của từng cá nhân trong chuỗi kinh doanh


4. Một số vấn đề thực tiễn cần lưu ý

  • Không phải mọi vi phạm an toàn thực phẩm đều bị xử lý hình sự; nhiều trường hợp chỉ xử phạt hành chính nếu chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm.

  • Giá trị thiệt hại, mức độ nguy hiểm và hậu quả thực tế là yếu tố quyết định việc khởi tố.

  • Trong giai đoạn điều tra, thái độ hợp tác và khắc phục hậu quả có thể ảnh hưởng đáng kể đến hướng xử lý sau này.

✅XI. Định hướng bào chữa khi bị điều tra theo Điều 317 BLHS

Tội vi phạm quy định về an toàn thực phẩm theo Điều 317 của Bộ luật Hình sự 2015 là nhóm tội có cấu thành phức tạp, phụ thuộc nhiều vào kết luận giám định, hậu quả thực tế và vai trò cụ thể của từng cá nhân trong chuỗi kinh doanh.

Vì vậy, chiến lược bào chữa hiệu quả không chỉ là “xin giảm nhẹ”, mà phải bắt đầu từ việc kiểm tra lại toàn bộ yếu tố cấu thành tội phạm.


1. Xác định có đủ yếu tố cấu thành tội phạm hay không

Đây là bước quan trọng nhất.

Một người chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi hành vi đáp ứng đầy đủ:

  • Hành vi vi phạm quy định về an toàn thực phẩm

  • Có lỗi (cố ý hoặc vô ý tùy trường hợp)

  • Có hậu quả hoặc thuộc trường hợp luật định phải xử lý hình sự

  • Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả

Thực tiễn:
Luật sư cần rà soát:

  • Quy trình kiểm tra, lấy mẫu có đúng thủ tục không

  • Kết luận giám định có rõ ràng, khách quan không

  • Có đủ căn cứ xác định bị can “biết rõ” hành vi vi phạm hay không

Nếu thiếu một trong các yếu tố trên, có thể đề nghị đình chỉ điều tra hoặc chuyển sang xử phạt hành chính.


2. Làm rõ vai trò trong chuỗi kinh doanh

Trong nhiều vụ án thực phẩm bẩn, có nhiều chủ thể liên quan:

  • Chủ cơ sở

  • Người quản lý

  • Nhân viên trực tiếp sản xuất

  • Người vận chuyển

Không phải ai cũng có vai trò quyết định.

Nội dung quan trọng:
Chứng minh thân chủ không phải là người tổ chức, không quyết định nguồn nguyên liệu, không biết rõ sai phạm — từ đó giảm nhẹ trách nhiệm hoặc loại trừ trách nhiệm hình sự.


3. Kiểm tra yếu tố lỗi

Điều 317 không mặc nhiên suy đoán lỗi. Cơ quan điều tra phải chứng minh:

  • Người bị buộc tội biết rõ thực phẩm không đảm bảo an toàn

  • Hoặc biết rõ quy định nhưng vẫn cố ý vi phạm

Nếu không chứng minh được yếu tố “biết rõ”, có thể:

  • Chuyển hướng sang vi phạm hành chính

  • Hoặc xác định lỗi vô ý để áp dụng khung nhẹ hơn


4. Giảm nhẹ hậu quả – chiến lược thực tế hiệu quả

Trong thực tiễn xét xử, việc chủ động:

  • Thu hồi sản phẩm

  • Bồi thường thiệt hại

  • Hợp tác điều tra

  • Thành khẩn khai báo

Có thể tạo nền tảng để:

  • Được áp dụng mức hình phạt thấp trong khung

  • Xem xét án treo (nếu đủ điều kiện)

  • Tránh áp dụng tình tiết tăng nặng


5. Đề nghị thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn

Không phải mọi trường hợp đều cần tạm giam.

Luật sư có thể đề nghị:

  • Cấm đi khỏi nơi cư trú

  • Bảo lĩnh

  • Đặt tiền để bảo đảm

Điều này đặc biệt quan trọng với chủ cơ sở kinh doanh, vì việc tạm giam có thể khiến hoạt động sản xuất đình trệ, gây thiệt hại lớn hơn.


6. Chuẩn bị cho giai đoạn truy tố và xét xử

Ngay từ giai đoạn điều tra cần:

  • Thu thập tài liệu chứng minh nguồn gốc hợp pháp của nguyên liệu

  • Hồ sơ kiểm định chất lượng trước đó

  • Giấy phép kinh doanh, chứng nhận đủ điều kiện an toàn thực phẩm

  • Nhân thân tốt, đóng góp xã hội

Việc chuẩn bị sớm giúp chủ động chiến lược, thay vì bị động khi hồ sơ đã chuyển sang Viện kiểm sát.


7. Những sai lầm thường gặp khi bị điều tra

❌ Tự ý tiêu hủy chứng cứ
❌ Khai báo thiếu nhất quán
❌ Làm việc với cơ quan điều tra mà không có luật sư
❌ Chỉ tập trung “xin giảm nhẹ” mà bỏ qua việc kiểm tra cấu thành tội phạm

Trong tội danh này, sai lầm ở giai đoạn đầu có thể ảnh hưởng toàn bộ kết quả vụ án.


Tóm lại

  • Ưu tiên kiểm tra yếu tố cấu thành tội phạm

  • Tập trung vào lỗi và vai trò cụ thể

  • Chủ động khắc phục hậu quả

  • Sử dụng quyền có luật sư ngay từ đầu

Tội theo Điều 317 không phải lúc nào cũng dẫn đến mức án nghiêm khắc nhất. Việc định hướng bào chữa đúng ngay từ giai đoạn điều tra có thể quyết định việc đình chỉ, chuyển xử phạt hành chính, giảm khung hình phạt hoặc được xem xét án treo.


✅XII. Khi nào nên mời luật sư ngay trong 24 giờ đầu bị điều tra?

Trong các vụ án về an toàn thực phẩm theo Điều 317 của Bộ luật Hình sự 2015, 24 giờ đầu tiên sau khi bị mời làm việc, khám xét hoặc tạm giữ có ý nghĩa quyết định. Đây là giai đoạn cơ quan điều tra thu thập lời khai ban đầu, niêm phong chứng cứ, trưng cầu giám định – những yếu tố có thể ảnh hưởng trực tiếp đến hướng xử lý sau này.

Dưới góc độ thực tiễn hành nghề, dưới đây là những trường hợp nên mời luật sư ngay lập tức.


1. Khi có dấu hiệu chuẩn bị khởi tố vụ án hoặc khởi tố bị can

Bạn nên mời luật sư ngay khi:

  • Cơ quan điều tra tiến hành khám xét cơ sở, thu giữ hàng hóa

  • Lấy lời khai nhiều lần về cùng một nội dung

  • Yêu cầu cung cấp toàn bộ hồ sơ kinh doanh, chứng nhận an toàn thực phẩm

  • Có thông tin về kết quả giám định bất lợi

Ở thời điểm này, luật sư có thể:

  • Giám sát tính hợp pháp của hoạt động tố tụng

  • Hướng dẫn khai báo đúng trọng tâm, tránh tự mâu thuẫn

  • Đề nghị thu thập chứng cứ có lợi ngay từ đầu


2. Khi bị tạm giữ hoặc có nguy cơ áp dụng biện pháp ngăn chặn

Nếu có dấu hiệu:

  • Tạm giữ người trong trường hợp khẩn cấp

  • Tạm giam

  • Cấm đi khỏi nơi cư trú

Việc có luật sư sớm giúp:

  • Kiểm tra căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn

  • Đề nghị bảo lĩnh hoặc đặt tiền để bảo đảm

  • Tránh kéo dài thời gian tạm giữ không cần thiết

Trong nhiều vụ việc, sự can thiệp sớm có thể thay đổi hoàn toàn biện pháp áp dụng.


3. Khi vụ việc liên quan đến nhiều người hoặc nhiều khâu sản xuất

Tội danh theo Điều 317 thường liên quan đến:

  • Chủ cơ sở

  • Người quản lý

  • Nhân viên kỹ thuật

  • Đơn vị cung cấp nguyên liệu

Nếu không xác định rõ vai trò, rất dễ bị quy kết trách nhiệm vượt quá phạm vi thực tế.

Luật sư sẽ giúp:

  • Phân tách vai trò cụ thể

  • Xác định ai là người quyết định hành vi

  • Làm rõ yếu tố “biết rõ” hay không


4. Khi kết luận giám định là căn cứ buộc tội chính

Trong án an toàn thực phẩm, kết luận giám định thường là chứng cứ then chốt.

Nếu có dấu hiệu:

  • Mẫu lấy không đúng quy trình

  • Không có biên bản niêm phong hợp lệ

  • Không xác định rõ lô hàng, thời điểm sản xuất

Luật sư có thể đề nghị giám định lại hoặc loại trừ chứng cứ không hợp pháp.


5. Khi muốn định hướng chiến lược giảm nhẹ hoặc tránh hình sự hóa

Không phải mọi vi phạm đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm.

Trong 24 giờ đầu, luật sư có thể:

  • Đánh giá khả năng chuyển sang xử phạt hành chính

  • Tư vấn khắc phục hậu quả kịp thời

  • Đề xuất hướng hợp tác phù hợp với cơ quan điều tra

Sự chủ động ở giai đoạn này có thể quyết định việc có bị khởi tố hay không.


6. Những sai lầm thường xảy ra nếu không có luật sư sớm

❌ Khai báo cảm tính, thiếu nhất quán
❌ Thừa nhận trách nhiệm vượt quá vai trò thực tế
❌ Giao nộp tài liệu mà không kiểm tra tính pháp lý
❌ Không biết mình có quyền từ chối trả lời một số câu hỏi

Trong tố tụng hình sự theo Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, người bị buộc tội có quyền có luật sư ngay từ khi bị tạm giữ hoặc bị khởi tố. Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều người chỉ tìm đến luật sư khi hồ sơ đã hoàn tất điều tra — lúc đó cơ hội điều chỉnh chiến lược đã giảm đáng kể.

Kết luận thực tiễn

Nếu vụ việc có dấu hiệu hình sự, đang bị thu giữ hàng hóa, chuẩn bị khởi tố hoặc có nguy cơ tạm giam, nên mời luật sư ngay trong 24 giờ đầu.

Thời điểm can thiệp càng sớm, khả năng:

  • Kiểm soát rủi ro pháp lý

  • Giảm nhẹ trách nhiệm

  • Hoặc thậm chí tránh bị truy cứu hình sự

càng cao.

✅Kết luận

Điều 317 của Bộ luật Hình sự 2015 chỉ truy cứu hình sự khi hành vi vi phạm an toàn thực phẩm đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Việc xử lý phụ thuộc vào lỗi, hậu quả và chứng cứ giám định cụ thể.

Tham gia luật sư ngay từ giai đoạn điều tra giúp kiểm soát rủi ro pháp lý, bảo vệ quyền lợi và tạo cơ hội giảm nhẹ hoặc tránh bị khởi tố.

Hotline/Telegram/Zalo: 0969 566 766 | 0338 919 686|

Website: https://luatdungtrinh.vn|

Email:luatdungtrinh@gmail.com|

  • Tags

Tin liên quan

Dấu hiệu nhận biết tội cưỡng bức lao động trong thực tế: Phân biệt với vi phạm lao động
Tội cưỡng bức lao động (Cưỡng bức lao động) là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc các thủ đoạn khác để ép buộc người lao động phải làm việc trái ý muốn của họ.
Tội vi phạm quy định về xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 298 BLHS)
Tội vi phạm quy định về xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng là hành vi vi phạm quy định về xây dựng trong các lĩnh vực khảo sát, thiết kế, thi công, sử dụng nguyên liệu, vật liệu, máy móc, nghiệm thu công trình hay các lĩnh vực khác
Tội vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở nơi đông người (Điều 295 BLHS)
Là hành vi vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động và an toàn ở nơi đông người. Cụ thể là hành vi không chấp hành các quy định của nhà nước trong việc đảm bảo an toàn lao động, vệ sinh lao động và an toàn ở nơi đông người dẫn đến gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoė, tài sản của người khác.
Khi nào hành vi thu thập, mua bán thông tin tài khoản ngân hàng bị truy cứu hình sự?
Tội thu thập tàng trữ trao đổi mua bán công khai hóa trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng là hành vi thu thập, tàng trữ, trao đổi, mua bán công khai hóa trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng của người khác nhằm mục đích thu lợi bất chính
Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản (Điều 290 BLHS)
Lừa đảo qua mạng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu giá trị tài sản chiếm đoạt từ 2 triệu đồng trở lên theo Điều 290 BLHS. Trường hợp dưới 2 triệu vẫn có thể bị xử lý nếu tái phạm, có tổ chức hoặc gây ảnh hưởng xấu. Mức phạt tù phụ thuộc vào số tiền và mức độ vi phạm.
Tội xâm nhập trái phép vào mạng máy tính mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử của người khác (Điều 289 BLHS)
Hành vi hack Facebook người khác có thể bị xử lý hình sự theo Điều 289 Bộ luật Hình sự Việt Nam nếu có yếu tố xâm nhập trái phép hệ thống mạng, chiếm quyền truy cập hoặc can thiệp dữ liệu. Tùy mức độ vi phạm, người thực hiện có thể bị phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù.
Hình fanpage
tvpl
Thông tin luật sư
Đoàn luật sư
Thành phố Hà Nội

Luật sư: TRỊNH VĂN DŨNG

Điện thoại: 0969566766

Zalo: 0338919686

Liên hệ Luật sư qua: youtube
Liên hệ Luật sư qua: tiktok
Liên hệ Luật sư qua: email
Khách hàng đặt câu hỏi tư vấn