✅ Phần 1. Phần mở đầu

Theo Điều 353 Bộ luật Hình sự hiện hành, khung hình phạt tội tham ô tài sản được xác định theo từng mức độ nghiêm trọng của hành vi, từ 02 năm tù đến tù chung thân. Khung cao nhất áp dụng hình phạt 20 năm tù hoặc tù chung thân đối với trường hợp thuộc khoản 4 Điều 353. Ngoài hình phạt tù, người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ từ 01 năm đến 05 năm, đồng thời có thể bị phạt tiền hoặc tịch thu tài sản theo quy định. Từ ngày 01/7/2025, pháp luật đã thay đổi mức hình phạt đối với tội tham ô, trong đó không còn tử hình. Bài viết tập trung phân tích từng khung, mức án và cách xác định hình phạt cụ thể, không thay thế nội dung về điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự.


✅ Phần 2. Điều 353 BLHS quy định khung hình phạt tội tham ô tài sản như thế nào?

2.1 Căn cứ pháp lý xác định mức hình phạt

Căn cứ xác định mức phạt tội tham ô tài sản là Điều 353 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 86/2025/QH15. Luật sửa đổi có hiệu lực từ ngày 01/7/2025, trong đó điều chỉnh đáng kể chính sách hình phạt đối với tội tham ô tài sản. Vì vậy, khi xác định khung hình phạt và mức án cụ thể, cần ưu tiên áp dụng quy định đang có hiệu lực tại thời điểm giải quyết vụ án, đồng thời xem xét quy định chuyển tiếp nếu hành vi hoặc bản án phát sinh trước thời điểm luật mới có hiệu lực. Nội dung bài viết được phân tích theo Điều 353 đã được sửa đổi năm 2025, bảo đảm phù hợp với pháp luật hiện hành.

2.2. Khung hình phạt được xác định dựa trên những yếu tố nào?

Việc định khung hình phạt tội tham ô tài sản là bước xác định người phạm tội thuộc khoản nào của Điều 353 BLHS. Căn cứ chủ yếu là giá trị tài sản bị chiếm đoạt, mức thiệt hại về tài sản và các tình tiết định khung mà điều luật quy định. Đây là bước khác với lượng hình. Sau khi xác định được khung, Tòa án mới quyết định mức án cụ thể trong phạm vi khung đó, dựa trên tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, vai trò của bị cáo cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và những yếu tố liên quan khác. Vì vậy, không thể chỉ dựa vào số tiền chiếm đoạt để kết luận ngay mức án cụ thể.

2.3. Khung hình phạt khác gì với điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự?

Điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự trả lời câu hỏi một hành vi có đủ căn cứ để xử lý hình sự hay không; trong khi khung hình phạt xác định phạm vi mức hình phạt có thể áp dụng sau khi đã xác định người phạm tội về tội tham ô tài sản. Vì vậy, hai vấn đề này không đồng nhất: xác định được căn cứ truy cứu chưa có nghĩa là đã xác định mức án cụ thể. Việc lựa chọn khung hình phạt còn phụ thuộc vào giá trị tài sản chiếm đoạt, thiệt hại về tài sản và các tình tiết định khung theo Điều 353 BLHS. Nếu cần tìm hiểu riêng tham ô tài sản bao nhiêu tiền thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự, người đọc có thể xem bài phân tích về ngưỡng truy cứu và các trường hợp đặc biệt: Tham ô tài sản bao nhiêu tiền thì bị truy cứu?


✅ Phần 3. Các khung hình phạt tội tham ô tài sản theo Điều 353 BLHS

3.1 Khung hình phạt cơ bản: phạt tù từ 02 năm đến 07 năm

Theo khoản 1 Điều 353 Bộ luật Hình sự, khung hình phạt tội tham ô tài sản cơ bản là phạt tù từ 02 năm đến 07 năm. Đây là khung được áp dụng đối với trường hợp hành vi đã đủ căn cứ xử lý về tội tham ô nhưng chưa thuộc các tình tiết định khung nghiêm trọng hơn tại khoản 2, khoản 3 hoặc khoản 4 Điều 353.

Về giá trị tài sản, khoản 1 chủ yếu áp dụng khi tài sản bị chiếm đoạt đạt ngưỡng luật định nhưng chưa chuyển sang các mức định lượng cao hơn của những khoản sau. Ngoài ra, pháp luật còn quy định một số trường hợp giá trị tài sản dưới ngưỡng nhưng người thực hiện vẫn có thể bị truy cứu nếu thuộc điều kiện đặc biệt mà Điều 353 quy định.

Cần lưu ý, 02–07 năm là khoảng hình phạt, không phải mức án mặc định. Khi quyết định hình phạt cụ thể, Tòa án còn xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, vai trò của bị cáo và các tình tiết liên quan theo quy định pháp luật.

Do đó, không nên hiểu rằng mọi trường hợp phạm tội tham ô đều thuộc khoản 1. Khi xuất hiện tình tiết định khung như giá trị tài sản hoặc thiệt hại đạt mức cao hơn, hành vi có thể được chuyển sang khoản 2, khoản 3 hoặc khoản 4 với mức hình phạt nghiêm khắc hơn.

Khung tại Điều 353 Mức hình phạt Căn cứ định khung nổi bật
Khoản 1 02–07 năm tù Trường hợp thuộc khoản 1
Khoản 2 07–15 năm tù Các tình tiết định khung tăng nặng
Khoản 3 15–20 năm tù Các tình tiết định khung nghiêm trọng hơn
Khoản 4 20 năm tù hoặc tù chung thân Chiếm đoạt từ 1 tỷ đồng hoặc gây thiệt hại từ 5 tỷ đồng

Khoản 4 hiện quy định mức 20 năm tù hoặc tù chung thân khi chiếm đoạt tài sản từ 1 tỷ đồng trở lên hoặc gây thiệt hại về tài sản từ 5 tỷ đồng trở lên.


3.2 Khung hình phạt từ 07 năm đến 15 năm tù

Theo khoản 2 Điều 353 BLHS, khung hình phạt tội tham ô tài sản từ 07 năm đến 15 năm tù được áp dụng khi hành vi thuộc một trong các tình tiết định khung được luật quy định. Đáng chú ý, khoản này không chỉ căn cứ vào giá trị tài sản bị chiếm đoạt, mà còn bao gồm các yếu tố như phạm tội có tổ chức, dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm, phạm tội 02 lần trở lên, chiếm đoạt tiền hoặc tài sản thuộc nhóm được pháp luật đặc biệt bảo vệ, gây thiệt hại về tài sản từ 1 tỷ đến dưới 3 tỷ đồng hoặc gây ảnh hưởng xấu đến đời sống của cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong cơ quan, tổ chức.

Vì vậy, việc chuyển từ khoản 1 sang mức phạt tội tham ô tài sản 07–15 năm không chỉ phụ thuộc vào số tiền chiếm đoạt. Chỉ cần hành vi có một tình tiết định khung thuộc khoản 2 thì có thể phải áp dụng khung này nếu các yếu tố pháp lý khác của tội phạm được xác định đầy đủ.

Một điểm cần phân biệt khi xác định mức án tội tham ô tài sản là tình tiết định khung và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ không có cùng chức năng. Tình tiết định khung là căn cứ xác định người phạm tội thuộc khung hình phạt nào; trong khi tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ được xem xét chủ yếu khi Tòa án quyết định mức hình phạt cụ thể trong khung. Do đó, không thể cộng cơ học tất cả tình tiết để suy ra mức án 07, 10 hay 15 năm. Việc lượng hình phải dựa trên tổng thể tính chất, mức độ hành vi và các tình tiết của từng vụ


3.3 Khung hình phạt từ 15 năm đến 20 năm tù

Theo khoản 3 Điều 353 BLHS, người phạm tội tham ô tài sản thuộc một trong các trường hợp được quy định tại khoản này thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm. Đây là khung hình phạt rất nghiêm khắc, được áp dụng khi hành vi có mức độ nguy hiểm cao hơn các trường hợp thuộc khoản 1 và khoản 2.

Điểm cần lưu ý là khoản 3 không chỉ được xác định bằng giá trị tài sản chiếm đoạt. Việc định khung phải căn cứ vào các tình tiết mà Điều 353 quy định, đồng thời đối chiếu với toàn bộ diễn biến vụ án. Vì vậy, không nên suy luận rằng cứ tham ô một khoản tiền nhất định là mặc nhiên thuộc khoản 3.

Về mức án, 15 năm là mức thấp nhất và 20 năm là mức cao nhất trong chính khung này. Tòa án sẽ lựa chọn mức hình phạt cụ thể trong khoảng 15–20 năm dựa trên tính chất, mức độ hành vi, vai trò của bị cáo và các tình tiết liên quan khi lượng hình.

Khoản 3 cũng cần phân biệt với khoản 4 Điều 353. Khoản 4 hiện quy định 20 năm tù hoặc tù chung thân đối với trường hợp chiếm đoạt tài sản trị giá từ 1 tỷ đồng hoặc gây thiệt hại về tài sản từ 5 tỷ đồng. Như vậy, 20 năm ở khoản 3 là mức tối đa của một khung tù có thời hạn, còn 20 năm hoặc tù chung thân ở khoản 4 là một khung hình phạt nghiêm khắc hơn.


3.4.Khung cao nhất: 20 năm tù hoặc tù chung thân

Khoản 4 Điều 353 Bộ luật Hình sự hiện hành quy định khung hình phạt cao nhất đối với tội tham ô tài sản là 20 năm tù hoặc tù chung thân. Khung này được áp dụng khi người phạm tội thuộc một trong hai trường hợp: chiếm đoạt tài sản trị giá từ 1 tỷ đồng trở lên hoặc gây thiệt hại về tài sản từ 5 tỷ đồng trở lên. Quy định này được sửa đổi theo Luật số 86/2025/QH15, có hiệu lực từ ngày 01/7/2025.

Điểm cần lưu ý là hai căn cứ định khung trên không phải hai cách diễn đạt của cùng một tiêu chí. “Giá trị tài sản chiếm đoạt” phản ánh giá trị tài sản mà người phạm tội đã chiếm đoạt, trong khi “thiệt hại về tài sản” đề cập đến hậu quả thiệt hại được xác định trong vụ án. Vì vậy, không nên mặc nhiên cộng hai khoản giá trị này để xác định khung hình phạt.

Việc thuộc khoản 4 cũng không có nghĩa bị cáo đương nhiên phải chịu tù chung thân. Điều luật quy định một khoảng lựa chọn gồm 20 năm tù hoặc tù chung thân; khi quyết định hình phạt cụ thể, Tòa án vẫn phải xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, vai trò của từng bị cáo, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và các yếu tố liên quan đến lượng hình.

Đặc biệt, từ ngày 01/7/2025, tử hình không còn là hình phạt đối với tội tham ô tài sản. Vì vậy, khi tra cứu mức án hiện hành, cần phân biệt quy định mới với những vụ án được xét xử theo pháp luật trước thời điểm sửa đổi.

Tóm lại: Tham ô tài sản thuộc khoản 4 Điều 353 khi chiếm đoạt từ 1 tỷ đồng hoặc gây thiệt hại từ 5 tỷ đồng; mức hình phạt là 20 năm tù hoặc tù chung thân. Đây là khung cao nhất hiện hành và không còn tử hình từ 01/7/2025


✅ Phần 4. Bảng tra cứu nhanh mức án tội tham ô tài sản hiện nay

Khoản Điều 353 Mức hình phạt Điểm cần chú ý
Khoản 1 02–07 năm tù Khung cơ bản
Khoản 2 07–15 năm tù Có tình tiết định khung tăng nặng
Khoản 3 15–20 năm tù Trường hợp nghiêm trọng hơn
Khoản 4 20 năm hoặc chung thân ≥ 1 tỷ đồng hoặc thiệt hại ≥ 5 tỷ đồng

4.1.Tham ô tài sản phạt bao nhiêu năm là thấp nhất?

Tội tham ô tài sản phạt bao nhiêu năm? Theo khoản 1 Điều 353 Bộ luật Hình sự, mức hình phạt tù thấp nhất đối với tội tham ô tài sản là 02 năm tù. Đây là mức khởi điểm của khung hình phạt cơ bản, áp dụng khi hành vi thuộc khoản 1 và không có tình tiết làm chuyển sang khung hình phạt nặng hơn. Mức án cụ thể không mặc nhiên là 02 năm mà do Tòa án quyết định trong phạm vi khung hình phạt, căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, nhân thân người phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Vì vậy, cần phân biệt mức thấp nhất của khung hình phạt với mức án thực tế mà bị cáo có thể phải chấp hành trong từng vụ án.


4.2. Mức án cao nhất đối với tội tham ô tài sản hiện nay là bao nhiêu?

Theo quy định hiện hành tại Điều 353 Bộ luật Hình sự, mức án tội tham ô tài sản cao nhất là 20 năm tù hoặc tù chung thân. Mức hình phạt này được áp dụng khi người phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 353, như chiếm đoạt tài sản trị giá từ 1 tỷ đồng trở lên hoặc gây thiệt hại về tài sản từ 5 tỷ đồng trở lên. Tuy nhiên, thuộc khung cao nhất không đồng nghĩa đương nhiên bị tù chung thân; Tòa án sẽ căn cứ tính chất, mức độ hành vi và các tình tiết của vụ án để quyết định hình phạt cụ thể.


4.3.Vì sao hiện nay không còn hình phạt tử hình đối với tội tham ô?

Việc bỏ hình phạt tử hình đối với tội tham ô tài sản là một thay đổi quan trọng của pháp luật hình sự từ ngày 01/7/2025. Có thể so sánh quy định trước và sau thời điểm này như sau:

Nội dung Quy định trước 01/7/2025 Quy định hiện hành từ 01/7/2025
Căn cứ pháp lý Điều 353 Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung trước năm 2025 Điều 353 Bộ luật Hình sự, được sửa đổi bởi Luật số 86/2025/QH15
Khung hình phạt cao nhất 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình 20 năm tù hoặc tù chung thân
Trường hợp chiếm đoạt từ 1 tỷ đồng Có thể thuộc khung 20 năm, chung thân hoặc tử hình Thuộc khung 20 năm hoặc tù chung thân nếu đáp ứng điều kiện của khoản 4 Điều 353
Tử hình đối với tội tham ô Có thể được áp dụng trong trường hợp luật định Không còn là hình phạt áp dụng theo Điều 353

Luật số 86/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 25/6/2025 và có hiệu lực từ 01/7/2025; trong đó bỏ hình phạt tử hình đối với tội tham ô tài sản.

Đối với người đã bị tuyên án tử hình về tội tham ô tài sản trước ngày 01/7/2025 nhưng chưa thi hành án, Luật quy định không thi hành hình phạt tử hình và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân. Đây là quy định chuyển tiếp, cần phân biệt với việc áp dụng Điều 353 hiện hành đối với các hành vi phạm tội mới.

Xem chi tiết: [Tham ô tài sản có bị tử hình không? Quy định từ 01/7/2025].


✅ Phần 5. Hình phạt bổ sung đối với người phạm tội tham ô

5.1 Cấm đảm nhiệm chức vụ từ 01 năm đến 05 năm

Theo khoản 5 Điều 353 Bộ luật Hình sự, người phạm tội tham ô tài sản còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm. Đây là hình phạt bổ sung, được áp dụng bên cạnh hình phạt chính và nhằm ngăn người bị kết án tiếp tục giữ hoặc đảm nhiệm những chức vụ có liên quan đến lĩnh vực đã lợi dụng để thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, việc chấp hành xong hình phạt tù không đồng nghĩa người bị kết án ngay lập tức được trở lại đảm nhiệm chức vụ thuộc phạm vi bị cấm. Thời hạn cấm cụ thể do Tòa án quyết định theo quy định của pháp luật và tính chất, mức độ của vụ án. Đây cũng là hậu quả pháp lý cần được phân biệt với hình phạt tù và các nghĩa vụ về tài sản.

Nếu cần phân tích riêng về điều kiện, thời hạn và phạm vi của hình phạt này, người đọc có thể xem [Tội tham ô tài sản có bị cấm đảm nhiệm chức vụ không?].


5.2 Phạt tiền và tịch thu tài sản

Theo khoản 5 Điều 353 Bộ luật Hình sự, ngoài hình phạt chính, người phạm tội tham ô tài sản có thể bị phạt tiền từ 60 triệu đồng đến 200 triệu đồng và tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Cần lưu ý, việc sử dụng cụm từ “có thể” cho thấy đây là hình phạt bổ sung được Tòa án xem xét áp dụng theo quy định pháp luật, không phải mọi trường hợp đều mặc nhiên bị áp dụng cả hai chế tài. Đồng thời, tịch thu tài sản không đồng nghĩa với việc người phạm tội được miễn nghĩa vụ hoàn trả tài sản đã chiếm đoạt hoặc bồi thường thiệt hại. Đây là những vấn đề pháp lý độc lập và cần được xác định riêng khi giải quyết vụ án.

Việc hoàn trả và thu hồi tài sản tham ô được xác định theo cơ chế pháp lý riêng, không đồng nhất với hình phạt tịch thu tài sản; xem chi tiết tại bài [Tài sản tham ô chuyển cho người khác có bị thu hồi không?].


5.3 Hình phạt bổ sung có thay thế hình phạt tù không?

Không. Hình phạt bổ sung không mặc nhiên thay thế hình phạt tù đối với người phạm tội tham ô tài sản. Theo Điều 353 BLHS, người phạm tội có thể bị áp dụng các hình phạt bổ sung như cấm đảm nhiệm chức vụ, phạt tiền hoặc tịch thu tài sản, bên cạnh hình phạt chính mà Tòa án quyết định. Việc chấp hành hình phạt bổ sung không đồng nghĩa với việc được miễn hoặc chuyển hình phạt tù thành phạt tiền. Cần phân biệt rõ phạt tiền là hình phạt, còn hoàn trả tài sản tham ô hoặc bồi thường thiệt hại thuộc trách nhiệm về tài sản và hậu quả dân sự của vụ án. Vì vậy, việc bị cáo đã nộp lại tiền hoặc khắc phục hậu quả có thể được xem xét khi lượng hình theo quy định, nhưng không đương nhiên làm mất trách nhiệm hình sự hoặc thay thế hình phạt tù.


✅ Phần 6. Tòa án quyết định mức án cụ thể trong từng khung như thế nào?

6.1 Không phải cứ thuộc một khung là mặc nhiên nhận mức án cao nhất

Việc xác định một người thuộc khung hình phạt nào không đồng nghĩa với việc người đó đương nhiên phải chịu mức án cao nhất trong khung. Khung hình phạt chỉ xác định khoảng hình phạt mà Tòa án có thể áp dụng, còn mức án cụ thể được quyết định dựa trên tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi và các tình tiết của vụ án. Khi lượng hình, Tòa án xem xét toàn diện nhân thân người phạm tội, vai trò trong vụ án, tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Vì vậy, hai người cùng bị xét xử về tội tham ô tài sản và cùng thuộc một khoản của Điều 353 BLHS vẫn có thể nhận mức án khác nhau. Mức hình phạt cuối cùng phải được cá thể hóa, bảo đảm tương xứng với hành vi, hậu quả và trách nhiệm của từng bị cáo.

Ví dụ: Hai bị cáo cùng bị xét xử và đều thuộc một khung hình phạt của Điều 353 BLHS. Người thứ nhất giữ vai trò chính, thực hiện hành vi với mức độ nghiêm trọng và có tình tiết tăng nặng. Người thứ hai chỉ tham gia với vai trò hạn chế, có nhân thân tốt và có các tình tiết giảm nhẹ. Dù cùng thuộc một khung, Tòa án có thể áp dụng mức án khác nhau đối với từng người. Điều này cho thấy việc xác định khung chỉ là bước đầu; mức án cuối cùng phải được quyết định trên cơ sở đánh giá riêng đối với từng bị cáo.

6.2 Vai trò của tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ khi lượng hình

Sau khi xác định đúng khung hình phạt, Tòa án tiếp tục xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ để quyết định mức án cụ thể đối với từng bị cáo. Đây là bước lượng hình, khác với việc xác định khung hình phạt. Chẳng hạn, thành khẩn khai báo, hợp tác với cơ quan tiến hành tố tụng hoặc tự nguyện khắc phục hậu quả có thể được xem xét khi lượng hình nếu đáp ứng điều kiện luật định. Ngược lại, các yếu tố như giữ vai trò chủ mưu, cầm đầu, phạm tội có tổ chức hoặc tái phạm nguy hiểm có thể làm mức độ trách nhiệm hình sự nghiêm khắc hơn.

Một nguyên tắc quan trọng khi lượng hình là không được sử dụng một tình tiết để bất lợi cho bị cáo hai lần. Nếu một tình tiết đã được sử dụng làm căn cứ xác định khung hình phạt thì không tiếp tục coi chính tình tiết đó là tình tiết tăng nặng để làm căn cứ nâng mức án trong cùng lần lượng hình. Vì vậy, hai bị cáo cùng thuộc một khung hình phạt chưa chắc nhận mức án giống nhau; Tòa án phải đánh giá toàn diện vai trò, mức độ tham gia và các tình tiết riêng của từng người. Riêng tác động của việc hoàn trả, khắc phục hậu quả được phân tích tại [Khắc phục hậu quả trong vụ án tham ô có được giảm án?].


6.3 Vai trò của bị cáo trong vụ án có ảnh hưởng đến mức án không?

Có. Trong vụ án tham ô có nhiều người tham gia, vai trò và mức độ tham gia của từng bị cáo là những yếu tố quan trọng khi Tòa án quyết định hình phạt. Người tổ chức, chủ mưu hoặc giữ vai trò cầm đầu thường có mức độ trách nhiệm cao hơn người thực hành hoặc người giúp sức, nếu các yếu tố khác tương đương. Tòa án còn xem xét mức độ tham gia thực tế, phạm vi hành vi, ý thức chủ quan và mức hưởng lợi của từng người để cá thể hóa hình phạt. Vì vậy, việc cùng bị xét xử trong một vụ án hoặc cùng thuộc một khung hình phạt không đồng nghĩa các bị cáo phải nhận cùng mức án. Trách nhiệm và hình phạt phải được xác định phù hợp với vai trò cụ thể của từng người. Xem thêm: [Đồng phạm trong vụ án tham ô tài sản bị xử lý như thế nào?].


✅ Phần 7. Một số trường hợp cần phân biệt khi xác định khung hình phạt

7.1 Giá trị tài sản chiếm đoạt và thiệt hại về tài sản có giống nhau không?

Về nguyên tắc, thiệt hại về tài sản được xác định trên cơ sở giá trị tổn thất thực tế do hành vi phạm tội gây ra, có xem xét mối quan hệ nhân quả giữa hành vi tham ô và hậu quả tài sản. Tùy trường hợp, khoản thiệt hại có thể được xác định từ giá trị tài sản bị mất, bị hư hỏng, giảm giá trị hoặc khoản tổn thất tài chính thực tế phát sinh và được chứng minh bằng chứng cứ hợp pháp. Có thể khái quát: thiệt hại thực tế = giá trị tài sản hoặc lợi ích tài sản bị tổn thất – phần giá trị còn lại có thể thu hồi, nếu có, nhưng cách tính cụ thể phải căn cứ tính chất tài sản và hậu quả của từng vụ án.

Ví dụ, nếu tài sản bị chiếm đoạt hoàn toàn và không còn khả năng thu hồi thì thiệt hại có thể được xem xét theo giá trị tài sản bị mất. Ngược lại, nếu tài sản đã được thu hồi một phần hoặc vẫn còn giá trị thì không nên mặc nhiên lấy toàn bộ giá trị ban đầu làm thiệt hại. Cơ quan tiến hành tố tụng cần căn cứ chứng từ, sổ sách, tài liệu kế toán, kết quả định giá, giám định và các chứng cứ liên quan để xác định con số cụ thể. Giá trị tài sản chiếm đoạt và thiệt hại về tài sản phải được xác định độc lập trước khi xem xét căn cứ định khung theo Điều 353 BLHS.


7.2.Có nhiều tình tiết thì xác định khung hình phạt như thế nào?

Ví dụ: Một vụ án có nhiều tình tiết

Giả sử người phạm tội tham ô tài sản và vụ án đồng thời có các tình tiết như phạm tội có tổ chức, dùng thủ đoạn xảo quyệt và sau đó tự nguyện khắc phục một phần hậu quả. Khi xác định khung hình phạt, Tòa án trước hết phải đối chiếu từng tình tiết với Điều 353 BLHS để xác định tình tiết nào là căn cứ định khung. Không thể lấy tất cả tình tiết để cộng dồn rồi mặc nhiên áp dụng khung cao nhất. Sau khi xác định được khung hình phạt, tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng không dùng để định khung mới được xem xét ở bước lượng hình, từ đó quyết định mức án cụ thể đối với từng bị cáo. Vì vậy, cùng một vụ án có nhiều tình tiết nhưng mức hình phạt của các bị cáo vẫn có thể khác nhau tùy vai trò và các tình tiết riêng.


7.3. Nhiều người cùng tham gia thì có cùng mức án không?

Không mặc nhiên. Trong vụ án có nhiều người cùng tham gia, mức hình phạt của từng người được xem xét trên cơ sở vai trò, mức độ tham gia và lỗi của mỗi người, chứ không chỉ căn cứ vào tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt. Người tổ chức, chủ mưu hoặc giữ vai trò chính có thể phải chịu trách nhiệm nghiêm khắc hơn người giúp sức với vai trò hạn chế. Tòa án cũng xem xét mức hưởng lợi, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và những đặc điểm riêng của từng bị cáo khi quyết định hình phạt. Vì vậy, dù cùng bị truy cứu trong một vụ án tham ô, các đồng phạm có thể phải chịu những mức án khác nhau.

Xem thêm: [Đồng phạm trong vụ án tham ô tài sản bị xử lý như thế nào?]


✅ Phần 8. Ví dụ cách xác định khung hình phạt tội tham ô tài sản

8.1 Ví dụ 1 — thuộc khung 02–07 năm

Giả định A là người có chức vụ, quyền hạn và được giao quản lý tài sản của cơ quan. A lợi dụng nhiệm vụ được giao để chiếm đoạt 300 triệu đồng. Hành vi đủ căn cứ cấu thành tội tham ô tài sản nhưng không có thêm tình tiết định khung thuộc khoản 2, khoản 3 hoặc khoản 4 Điều 353 BLHS. Do đó, A bị xem xét theo khoản 1 Điều 353, với khung hình phạt từ 02 năm đến 07 năm tù. Mức án cụ thể còn phụ thuộc các tình tiết của vụ án.


8.2 Ví dụ 2 — thuộc khung 15–20 năm

Giả định B lợi dụng chức vụ, quyền hạn để chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý và hành vi thuộc trường hợp định khung tại khoản 3 Điều 353 BLHS. Khi đó, B phải chịu trách nhiệm hình sự trong khung 15–20 năm tù. Việc thuộc khoản 3 chỉ xác định phạm vi hình phạt; không có nghĩa B đương nhiên bị phạt 20 năm. Tòa án còn phải đánh giá vai trò, tính chất, mức độ hành vi cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ để quyết định mức án cụ thể.


8.3 Ví dụ 3 — tài sản từ 1 tỷ đồng

Giả định A lợi dụng chức vụ, quyền hạn để chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý, với tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 1,2 tỷ đồng. Nếu các yếu tố khác của tội tham ô được xác định đầy đủ, giá trị tài sản này thuộc trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 353 BLHS. Theo đó, A có thể bị áp dụng khung hình phạt 20 năm tù hoặc tù chung thân. Mức án cụ thể do Tòa án quyết định căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi và các tình tiết của vụ án.


8.4. Ví dụ 4 — thiệt hại từ 5 tỷ đồng

Giả định hành vi tham ô gây thiệt hại về tài sản 5 tỷ đồng và có đủ căn cứ áp dụng khoản 4 Điều 353 BLHS. Cần phân biệt giá trị tài sản bị chiếm đoạt với thiệt hại về tài sản, bởi đây là hai căn cứ định khung khác nhau. Trường hợp thuộc khoản 4, khung hình phạt là 20 năm tù hoặc tù chung thân.


✅ Phần 9. Câu hỏi thường gặp về khung hình phạt tội tham ô tài sản

❓ Tội tham ô tài sản phạt thấp nhất bao nhiêu năm?

Tội tham ô tài sản có mức phạt tù thấp nhất là 02 năm, theo khoản 1 Điều 353 Bộ luật Hình sự. Đây là mức khởi điểm của khung hình phạt cơ bản. Mức án thực tế trong từng vụ án còn phụ thuộc vào tính chất, mức độ hành vi, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và các căn cứ lượng hình theo quy định pháp luật.

❓ Tội tham ô tài sản có thể bị tù chung thân không?

Có. Theo khoản 4 Điều 353 Bộ luật Hình sự hiện hành, người phạm tội tham ô tài sản có thể bị 20 năm tù hoặc tù chung thân nếu thuộc trường hợp luật định, như chiếm đoạt tài sản trị giá từ 1 tỷ đồng trở lên hoặc gây thiệt hại về tài sản từ 5 tỷ đồng trở lên. Tòa án quyết định hình phạt cụ thể dựa trên hồ sơ vụ án.

❓ Tội tham ô tài sản hiện nay có bị tử hình không?

Không. Từ ngày 01/7/2025, Luật số 86/2025/QH15 đã sửa đổi Điều 353 Bộ luật Hình sự và bỏ hình phạt tử hình đối với tội tham ô tài sản. Theo quy định hiện hành, mức hình phạt cao nhất là 20 năm tù hoặc tù chung thân. Vì vậy, không thể áp dụng tử hình theo Điều 353 đối với các trường hợp thuộc pháp luật hiện hành.

❓ Tham ô 1 tỷ đồng bị phạt bao nhiêu năm?

Trường hợp chiếm đoạt tài sản trị giá từ 1 tỷ đồng trở lên và đáp ứng các điều kiện của khoản 4 Điều 353, hành vi thuộc khung hình phạt 20 năm tù hoặc tù chung thân. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa người phạm tội mặc nhiên bị tù chung thân. Tòa án vẫn phải xem xét toàn diện các tình tiết của vụ án để quyết định mức hình phạt cụ thể.

❓ Khắc phục hậu quả có làm thay đổi khung hình phạt không?

Không mặc nhiên. Việc tự nguyện khắc phục hậu quả có thể được xem xét là tình tiết giảm nhẹ khi quyết định hình phạt, nhưng không đồng nghĩa với việc tự động chuyển sang khung hình phạt nhẹ hơn hoặc loại bỏ trách nhiệm hình sự. Cần phân biệt tình tiết định khung với tình tiết giảm nhẹ khi đánh giá mức án trong vụ án tham ô.

❓ Người giúp sức trong vụ án tham ô có cùng mức án với người chủ mưu không?

Không nhất thiết. Người giúp sức và người chủ mưu có thể phải chịu trách nhiệm hình sự trong cùng vụ án nhưng mức hình phạt được cá thể hóa theo vai trò, mức độ tham gia và các tình tiết riêng của từng người. Người chủ mưu, cầm đầu thường được đánh giá khác với người có vai trò giúp sức, tùy thuộc vào diễn biến và chứng cứ của vụ án.

✅ Phần 10. Kết luận

Theo Điều 353 Bộ luật Hình sự hiện hành, tội tham ô tài sản có 04 khung hình phạt chính, được xác định tùy thuộc vào giá trị tài sản chiếm đoạt, thiệt hại về tài sản và các tình tiết định khung cụ thể. Mức hình phạt dao động từ 02 năm tù đến tù chung thân. Đối với trường hợp thuộc khoản 4 Điều 353, mức hình phạt cao nhất là 20 năm tù hoặc tù chung thân. Đáng lưu ý, từ ngày 01/7/2025, tử hình không còn là hình phạt áp dụng đối với tội tham ô tài sản theo quy định sửa đổi.

Việc xác định chính xác khung hình phạt không chỉ dựa vào số tiền được cho là đã tham ô. Với vụ án có nhiều người tham gia, nhiều giao dịch, dòng tiền phức tạp hoặc tranh chấp về giá trị tài sản, cần đối chiếu hồ sơ vụ án, chứng cứ, vai trò của từng người và căn cứ giao quản lý tài sản để xác định đúng quy định tại Điều 353.

Cần tư vấn pháp lý cho vụ việc cụ thể?

Nếu bạn hoặc người thân đang liên quan đến vụ án tham ô tài sản, có thể trao đổi với luật sư để được đánh giá hồ sơ, xác định khung hình phạt có khả năng được áp dụng và làm rõ các tình tiết pháp lý liên quan. Việc tư vấn cần dựa trên hồ sơ, chứng cứ và diễn biến thực tế của vụ án; không nên chỉ căn cứ vào số tiền hoặc thông tin chưa được kiểm chứng. Không có việc tư vấn nào có thể bảo đảm trước kết quả giải quyết của cơ quan tiến hành tố tụng hoặc Tòa án.

  • Tags

Tin liên quan

Trình tự, thủ tục khởi tố vụ án hình sự từ A–Z theo quy định mới nhất
Khởi tố vụ án hình sự là bước đầu tiên trong tố tụng nhằm xác định có hay không dấu hiệu tội phạm. Quy trình khởi tố vụ án hình sự bao gồm tiếp nhận tin báo, xác minh và ra quyết định theo luật định. Việc hiểu rõ điều kiện khởi tố, thời hạn xử lý giúp cá nhân, doanh nghiệp bảo vệ quyền lợi hợp pháp
Tham ô tài sản bao nhiêu tiền thì bị truy cứu?
Theo Điều 353 BLHS, hành vi tham ô tài sản về nguyên tắc bị truy cứu khi tài sản bị chiếm đoạt có giá trị từ 2 triệu đồng đến dưới 100 triệu đồng. Trường hợp dưới 2 triệu đồng vẫn có thể bị truy cứu nếu người thực hiện đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm hoặc đã bị kết án về một trong các tội thuộc Mục 1 Chương XXIII và chưa được xóa án tích.
Trách nhiệm hình sự của pháp nhân khi vi phạm quy định về PCCC?
Pháp nhân thương mại có thể phải chịu trách nhiệm hình sự khi vi phạm quy định về PCCC nếu hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân, vì lợi ích của pháp nhân và đáp ứng các điều kiện theo Bộ luật Hình sự. Trách nhiệm của pháp nhân được xem xét độc lập với trách nhiệm hình sự của cá nhân liên quan.
Tham ô tài sản có bị tử hình không?
Theo quy định hiện hành, tội tham ô tài sản không còn bị phạt tử hình. Từ ngày 01/7/2025, Luật 86/2025/QH15 sửa Điều 353 Bộ luật Hình sự, bỏ hình phạt tử hình đối với tội tham ô. Trường hợp đặc biệt nghiêm trọng có mức hình phạt cao nhất là 20 năm tù hoặc tù chung thân. Một số trường hợp đã bị tuyên tử hình trước ngày 01/7/2025 được áp dụng quy định chuyển tiếp.
Người dân có quyền tố cáo cán bộ công an không?
Người dân có quyền tố cáo cán bộ công an vi phạm pháp luật không? Phân tích Điều 32 BLTTHS 2015, thẩm quyền, thời hạn, thủ tục và bảo vệ người tố cáo.
Tố cáo cán bộ công an vi phạm pháp luật ở đâu?
Hướng dẫn tố cáo cán bộ công an vi phạm pháp luật đúng thẩm quyền: gửi ở đâu, cơ quan nào giải quyết, căn cứ pháp lý và bảo vệ người tố cáo theo luật.
Hình fanpage
tvpl
Thông tin luật sư
Đoàn luật sư
Thành phố Hà Nội

Luật sư: TRỊNH VĂN DŨNG

Điện thoại: 0969566766

Zalo: 0338919686

Liên hệ Luật sư qua: youtube
Liên hệ Luật sư qua: tiktok
Liên hệ Luật sư qua: email
Khách hàng đặt câu hỏi tư vấn