Chứa mại dâm người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi là tình tiết định khung theo điểm đ khoản 2 Điều 327 BLHS. Người thực hiện hành vi chứa mại dâm trong trường hợp này có thể bị áp dụng khung hình phạt từ 05 năm đến 10 năm tù. Cần xác định chính xác độ tuổi của người bán dâm tại thời điểm hành vi xảy ra.

✅Phần 1. Mở đầu

Chứa mại dâm người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi là trường hợp thuộc điểm đ khoản 2 Điều 327 BLHS, với khung hình phạt từ 05 năm đến 10 năm tù. Tuy nhiên, việc xác định tình tiết này không thể chỉ dựa vào việc tại địa điểm có người dưới 18 tuổi tham gia mua bán dâm. Cơ quan tiến hành tố tụng cần làm rõ người thực hiện hành vi mại dâm là ai, độ tuổi của người đó tại thời điểm hành vi xảy ra và người bị truy cứu có thực hiện hành vi chứa mại dâm đối với người này hay không.

Điểm cần phân biệt là ngưỡng từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi không đồng nhất với trường hợp người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi. Hai nhóm tuổi này được Điều 327 đặt trong các khoản khác nhau, dẫn đến cách xác định tình tiết định khung khác nhau. Vì vậy, không nên suy luận rằng cứ có người chưa đủ 18 tuổi tại cơ sở hoặc địa điểm xảy ra vụ việc thì mặc nhiên áp dụng điểm đ khoản 2.

Trong thực tiễn, việc đánh giá còn cần đối chiếu giấy tờ nhân thân, thời điểm sinh, thời điểm xảy ra hành vi và các tài liệu chứng minh hành vi chứa mại dâm. Đây là những dữ kiện quyết định việc áp dụng đúng tình tiết định khung của Điều 327.

  • Độ tuổi: Người bán dâm từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi.
  • Căn cứ: Điểm đ khoản 2 Điều 327 BLHS.
  • Tính chất: Đây là tình tiết định khung, không phải một tội danh riêng.
  • Khung hình phạt: Từ 05 năm đến 10 năm tù.
  • Điểm cần xác định: Độ tuổi phải được đối chiếu tại thời điểm thực hiện hành vi.
  • Không đồng nhất: Người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi khác với trường hợp từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi, thuộc khoản 3 Điều 327.
  • Không suy luận máy móc: Chỉ xác định được tình tiết này khi đồng thời có căn cứ về hành vi chứa mại dâm và độ tuổi của người bán dâm.

✅Phần 2. Chứa mại dâm người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi được hiểu thế nào?

Chứa mại dâm người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi là trường hợp người phạm tội thực hiện hành vi chứa mại dâm đối với người bán dâm thuộc độ tuổi từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi. Đây là tình tiết định khung tại điểm đ khoản 2 Điều 327 BLHS.

2.1. “Người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi” được tính như thế nào?

Trong tội chứa mại dâm, cụm từ “người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi” phải được xác định theo tuổi thực tế của người bán dâm tại thời điểm hành vi xảy ra. “Đủ 16 tuổi” được hiểu là người đó đã hoàn thành 16 năm tuổi; còn “dưới 18 tuổi” là chưa đến ngày sinh nhật lần thứ 18. Vì vậy, không thể chỉ ghi nhận chung người này là “người chưa thành niên” rồi suy ra tình tiết áp dụng.

Khi xem xét người 16 17 tuổi trong tội chứa mại dâm, cần đối chiếu chính xác ngày, tháng, năm sinh với thời điểm thực hiện hành vi chứa mại dâm. Giấy khai sinh, dữ liệu hộ tịch và giấy tờ nhân thân là những tài liệu cần được kiểm tra để xác định mốc tuổi. Trường hợp có nhiều lần thực hiện hành vi, cũng cần xác định tuổi tương ứng với từng thời điểm, bởi tuổi của người bán dâm có thể thay đổi giữa các lần xảy ra vụ việc.

2.2. Đây là tình tiết định khung của Điều 327, không phải tội danh riêng

Cụm từ “đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi” tại điểm đ khoản 2 Điều 327 là một tình tiết định khung hình phạt của tội chứa mại dâm, không phải một tội danh độc lập. Vì vậy, khi xem xét vụ án, trước hết vẫn phải xác định người bị buộc tội có thực hiện hành vi chứa mại dâm theo Điều 327 hay không; sau đó mới xem xét người bán dâm có thuộc nhóm tuổi từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi để áp dụng tình tiết này.

Cần phân biệt rõ: người 16–17 tuổi trong tội chứa mại dâm không phải là chủ thể của tội chứa mại dâm chỉ vì họ là người bán dâm. Trong trường hợp này, họ là người bị tác động bởi hành vi chứa mại dâm; người bị truy cứu trách nhiệm hình sự là người đã thực hiện hành vi sử dụng, thuê, cho thuê, mượn hoặc cho mượn địa điểm, phương tiện để thực hiện việc mua dâm, bán dâm khi có đủ căn cứ pháp luật.

Do đó, không thể chỉ dựa vào việc xác định người bán dâm 16–17 tuổi để kết luận ngay về trách nhiệm hình sự. Hành vi chứa mại dâm và tình tiết về độ tuổi phải được chứng minh độc lập, sau đó mới xác định khung hình phạt tương ứng.

Để có cái nhìn đầy đủ về cấu thành, các tình tiết định khung và hình phạt của tội chứa mại dâm, có thể xem thêm bài [Tội chứa mại dâm Điều 327, BLHS].


✅Phần 3. Điều 327 quy định thế nào khi chứa mại dâm người 16–17 tuổi?

3.1. Điểm đ khoản 2 Điều 327 áp dụng trong trường hợp nào?

Theo Điều 327 BLHS, hành vi chứa mại dâm thuộc khoản 1 khi chưa có tình tiết định khung tăng nặng được quy định tại các khoản sau. Khi người phạm tội chứa mại dâm đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, hành vi thuộc trường hợp quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 327, với khung hình phạt từ 05 năm đến 10 năm tù.

Điểm cần lưu ý là tình tiết này không được xác định chỉ vì người bán dâm “chưa đủ 18 tuổi”. Cơ quan tiến hành tố tụng phải làm rõ độ tuổi cụ thể của người bán dâm tại thời điểm thực hiện hành vi. Nếu người đó đã đủ 16 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi thì mới thuộc phạm vi của điểm đ khoản 2. Ngược lại, trường hợp người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi phải được xem xét theo quy định riêng tại khoản 3 Điều 327.

Vì vậy, khi áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 327, cần tách hai vấn đề: có hành vi chứa mại dâm hay khôngngười bán dâm có đúng độ tuổi mà điều luật quy định hay không. Không nên chỉ dựa vào cách gọi chung là “người chưa thành niên” để xác định tình tiết định khung.

Ví dụ: A quản lý một cơ sở lưu trú và biết B là người bán dâm. Trong thời gian B 17 tuổi, A vẫn bố trí phòng, tạo điều kiện để B thực hiện việc bán dâm cho khách. Nếu cơ quan tiến hành tố tụng chứng minh được hành vi của A đáp ứng đầy đủ dấu hiệu của tội chứa mại dâm và B thực tế từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi tại thời điểm hành vi xảy ra, thì tình tiết “đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi” có thể được xem xét theo điểm đ khoản 2 Điều 327, thuộc khung hình phạt từ 05 năm đến 10 năm tù.

Ngược lại, nếu người bán dâm đã đủ 18 tuổi tại thời điểm A thực hiện hành vi chứa mại dâm thì không thể áp dụng điểm đ này chỉ vì trước đó người này từng ở độ tuổi 16–17. Còn nếu người bán dâm từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, phải xem xét theo điểm a khoản 3 Điều 327, không áp dụng máy móc điểm đ khoản 2.

Ví dụ này cho thấy khi áp dụng điểm đ khoản 2, cần kiểm tra đồng thời hành vi chứa mại dâm, người bán dâm cụ thể và độ tuổi của người đó tại thời điểm thực hiện hành vi; không chỉ dựa vào cách gọi chung là “người chưa thành niên”.

3.2. Một vụ án có nhiều tình tiết định khung thì xác định thế nào?

Không phải cứ một vụ án có nhiều tình tiết là lựa chọn một tình tiết để thay thế cho các tình tiết còn lại. Với tội chứa mại dâm, cần tách từng dữ kiện thực tế để xác định tình tiết định khung tương ứng. Chẳng hạn, người thực hiện hành vi chứa mại dâm nhiều lần và trong một hoặc một số lần có người bán dâm từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi thì có thể đồng thời phải xem xét tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên” tại điểm c và “đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi” tại điểm đ khoản 2 Điều 327. Hai tình tiết này phản ánh hai vấn đề khác nhau: một bên là số lần thực hiện hành vi, bên còn lại là độ tuổi của người bán dâm.

Tương tự, “chứa mại dâm 04 người trở lên” tại điểm d khoản 2 cũng cần được đánh giá theo số người bán dâm thực tế, không đồng nhất với tình tiết về độ tuổi. Vì vậy, khi rà soát hồ sơ phải xác định riêng: có bao nhiêu lần chứa mại dâm, có bao nhiêu người bán dâm và độ tuổi của từng người tại thời điểm xảy ra hành vi.

Thực tiễn xét xử đã có vụ án xác định đồng thời tình tiết phạm tội 02 lần trở lênđối với người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi theo điểm c, đ khoản 2 Điều 327. Đây là cơ sở cho thấy các tình tiết phải được đối chiếu độc lập với tình tiết thực tế của vụ án, thay vì suy luận theo một dấu hiệu duy nhất.


✅Phần 4. Điều kiện để áp dụng tình tiết “đối với người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi”

4.1. Phải xác định người bán dâm thuộc đúng độ tuổi 16–17

Không được suy luận theo công thức “người chưa thành niên = người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi” để áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 327. Về pháp lý, cần xác định chính xác ngày, tháng, năm sinh của người bán dâm và đối chiếu với thời điểm hành vi chứa mại dâm xảy ra. Chỉ khi có căn cứ xác định người đó đã đủ 16 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi tại thời điểm thực hiện hành vi, cơ quan tiến hành tố tụng mới có cơ sở xem xét tình tiết này.

Việc xác định tuổi cần được kiểm tra từ giấy khai sinh, CCCD hoặc giấy tờ nhân thân, hồ sơ hộ tịch và các tài liệu chính thức khác. Lời khai của người bán dâm hoặc những người liên quan có thể là nguồn thông tin cần xem xét, nhưng không nên tách khỏi việc đối chiếu tài liệu nhân thân. Trường hợp hồ sơ có mâu thuẫn về ngày sinh hoặc thiếu giấy tờ, cần xác minh bổ sung trước khi kết luận về độ tuổi.

Lưu ý thực tiễn: không phải cứ xác định người bán dâm là “chưa thành niên” thì mặc nhiên áp dụng điểm đ khoản 2; ranh giới 16 tuổi và 18 tuổi phải được chứng minh bằng dữ liệu nhân thân cụ thể.

4.2. Độ tuổi phải được xác định tại thời điểm thực hiện hành vi

Khi xem xét tình tiết “đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi” tại điểm đ khoản 2 Điều 327 BLHS, cần xác định tuổi của người bán dâm tại thời điểm hành vi chứa mại dâm xảy ra. Không thể lấy tuổi của người này ở thời điểm điều tra, truy tố hoặc xét xử để thay thế cho thời điểm thực hiện hành vi.

Chẳng hạn, nếu người bán dâm 17 tuổi 11 tháng khi hành vi chứa mại dâm được thực hiện thì vẫn thuộc nhóm từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi. Việc sau đó người này đủ 18 tuổi, kể cả trước khi vụ án được xét xử, không làm thay đổi độ tuổi pháp lý tại thời điểm hành vi đã xảy ra.

Ngược lại, nếu tại thời điểm thực hiện hành vi người bán dâm đã đủ 18 tuổi, thì không thể áp dụng tình tiết tại điểm đ khoản 2 chỉ vì trước đó người này từng 16 hoặc 17 tuổi. Vì vậy, khi đánh giá tình tiết này cần đối chiếu ngày, tháng, năm sinh với thời điểm cụ thể của từng hành vi, nhất là trong vụ án có nhiều lần chứa mại dâm xảy ra ở các thời điểm khác nhau.

4.3.Tài liệu nào được dùng để xác định tuổi của người bán dâm?

Khi xác định người bán dâm có thuộc nhóm từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi hay không, cơ quan tiến hành tố tụng phải dựa trên tài liệu có giá trị chứng minh về nhân thân và ngày, tháng, năm sinh, thay vì chỉ căn cứ vào lời khai. Theo hướng dẫn về xác định tuổi người dưới 18 tuổi, các tài liệu có thể được đối chiếu gồm giấy chứng sinh, giấy khai sinh, chứng minh nhân dân, thẻ căn cước công dân, sổ hộ khẩu và hộ chiếu.

Trường hợp các giấy tờ có mâu thuẫn, không rõ ràng hoặc không có giấy tờ thì phải tiếp tục xác minh thông qua gia đình, người đại diện, người thân thích, nhà trường hoặc các tổ chức, cá nhân liên quan để tìm tài liệu có giá trị chứng minh tuổi. Nếu đã áp dụng các biện pháp hợp pháp mà vẫn không xác định được chính xác năm sinh, Điều 417 BLTTHS quy định phải giám định để xác định tuổi.

Điểm cần lưu ý: tài liệu xác định tuổi phải được đối chiếu với thời điểm thực hiện hành vi chứa mại dâm. Đây mới là dữ kiện quyết định người bán dâm có thuộc ngưỡng 16–17 tuổi để xem xét điểm đ khoản 2 Điều 327 hay không.

Dữ kiện cần kiểm tra Ý nghĩa pháp lý Tài liệu cần đối chiếu
Ngày, tháng, năm sinh của người bán dâm Là dữ kiện nền tảng để tính tuổi chính xác tại thời điểm xảy ra hành vi chứa mại dâm. Giấy khai sinh, giấy chứng sinh, thẻ căn cước, CMND, hộ chiếu và các tài liệu nhân thân hợp pháp khác.
Thời điểm cụ thể của hành vi chứa mại dâm Dùng để xác định người bán dâm đã đủ 16 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi tại thời điểm hành vi xảy ra hay chưa. Lời khai, biên bản bắt quả tang, dữ liệu đặt phòng, sổ quản lý, camera, tin nhắn, dữ liệu điện tử và các tài liệu xác định thời gian thực hiện hành vi.
Tuổi tại từng lần chứa mại dâm Nếu vụ án có nhiều lần thực hiện hành vi, tuổi phải được đối chiếu với từng thời điểm, không mặc nhiên lấy một mốc tuổi cho toàn bộ vụ án. Tài liệu chứng minh thời gian từng lần xảy ra hành vi kết hợp với giấy tờ xác định ngày sinh.
Có mâu thuẫn giữa các giấy tờ về ngày sinh hay không Mâu thuẫn về ngày, tháng, năm sinh có thể làm thay đổi việc người bán dâm thuộc nhóm 16–17 tuổi hay đã đủ 18 tuổi. Giấy khai sinh, giấy chứng sinh, căn cước/CMND, hộ chiếu, sổ hộ khẩu và tài liệu nhân thân khác.
Có giấy tờ xác định tuổi hay không Nếu không có hoặc giấy tờ không rõ ràng, cơ quan tiến hành tố tụng phải tiếp tục xác minh, thu thập tài liệu có giá trị chứng minh tuổi. Hồ sơ hộ tịch, tài liệu từ gia đình, người đại diện, người thân thích, nhà trường, nơi học tập, lao động, sinh hoạt và các nguồn liên quan.
Chỉ xác định được khoảng thời gian sinh Không được tùy ý chọn ngày sinh có lợi hoặc bất lợi; trường hợp không xác định chính xác phải áp dụng cách xác định theo Điều 417 BLTTHS. Tài liệu hộ tịch và kết quả xác minh để xác định được tháng, quý, nửa năm hoặc năm sinh.
Không xác định được năm sinh Khi đã áp dụng các biện pháp hợp pháp nhưng vẫn không xác định được năm sinh thì phải giám định để xác định tuổi. Quyết định trưng cầu và kết luận giám định tuổi.
Kết quả giám định chỉ xác định được một khoảng tuổi Cần áp dụng quy định tố tụng tương ứng để xác định tuổi, không tự suy đoán tuổi chính xác từ ngoại hình hoặc lời khai đơn thuần. Kết luận giám định và toàn bộ tài liệu xác minh nhân thân liên quan.

Câu chốt sau bảng nên dùng:

Như vậy, vấn đề không chỉ là “người bán dâm có giấy tờ ghi 16 hoặc 17 tuổi hay không”, mà phải đối chiếu ngày sinh với thời điểm thực hiện từng hành vi chứa mại dâm. Chỉ khi dữ liệu về tuổi được xác định đủ căn cứ mới có thể xem xét việc áp dụng tình tiết “đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi” tại điểm đ khoản 2 Điều 327 BLHS. Điều 327 hiện quy định tình tiết này tại khoản 2.

4.4. Phải chứng minh hành vi chứa mại dâm liên quan đến người 16–17 tuổi

Không chỉ chứng minh có người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi xuất hiện tại nhà nghỉ, khách sạn hoặc địa điểm khác là đủ để áp dụng tình tiết tại điểm đ khoản 2 Điều 327 BLHS. Cần làm rõ người đó thực tế có tham gia bán dâm và hành vi của người bị truy cứu có mối liên hệ với việc thực hiện mua bán dâm tại địa điểm, phương tiện mà mình quản lý, sử dụng hoặc cho phép sử dụng.

Theo Pháp lệnh Phòng, chống mại dâm, “chứa mại dâm” được hiểu là hành vi sử dụng, thuê, cho thuê, mượn hoặc cho mượn địa điểm, phương tiện để thực hiện việc mua dâm, bán dâm. Vì vậy, khi xem xét trường hợp người bán dâm 16–17 tuổi, cần tách hai vấn đề: người bán dâm có đúng độ tuổi luật định hay khônghành vi của người bị buộc tội có đủ căn cứ xác định là chứa mại dâm hay không. Hai dữ kiện này phải được chứng minh và đối chiếu trong tổng thể hồ sơ, không thể chỉ dựa vào việc người 16–17 tuổi có mặt tại địa điểm xảy ra vụ việc.

✅Phần 5. Phân biệt chứa mại dâm người 16–17 tuổi với người dưới 16 tuổi

Tiêu chí Người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi Người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi
Độ tuổi Từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi Từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi
Căn cứ tại Điều 327 Điểm đ khoản 2 Điều 327 Khoản 3 Điều 327
Tính chất pháp lý tình tiết định khung của khoản 2 Là trường hợp thuộc khung hình phạt nặng hơn tại khoản 3
Khung hình phạt 05–10 năm tù 10–15 năm tù
Điểm cần chứng minh Người bán dâm thuộc đúng độ tuổi 16–17 tại thời điểm hành vi xảy ra Người bán dâm thuộc đúng độ tuổi 13–15 tại thời điểm hành vi xảy ra
Cách xác định tuổi Phải đối chiếu ngày, tháng, năm sinh với thời điểm thực hiện hành vi Tương tự, nhưng phải xác định chính xác mốc chưa đủ 16 tuổi
Có thể áp dụng cùng tình tiết khác? Có thể, nếu vụ án đồng thời có các tình tiết định khung khác và đủ căn cứ Có thể phát sinh các tình tiết khác, nhưng phải xác định đúng khoản áp dụng
Điểm dễ nhầm Không đồng nhất với mọi trường hợp “người chưa thành niên” Không gộp chung với nhóm 16–17 tuổi
Ví dụ Người bán dâm 17 tuổi → xem xét điểm đ khoản 2 Người bán dâm 15 tuổi → xem xét khoản 3

Lưu ý: Không nên dùng cách gọi chung “chứa mại dâm người dưới 18 tuổi” để thay thế hai trường hợp trên. Điều 327 phân định hậu quả pháp lý theo từng ngưỡng tuổi; vì vậy, khi xử lý một vụ việc phải xác định ngày sinh và tuổi của người bán dâm tại thời điểm hành vi chứa mại dâm xảy ra, rồi mới xác định khoản tương ứng.

5.1 Từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi: điểm đ khoản 2 Điều 327

Khi xác định chứa mại dâm người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi, cần chốt đúng độ tuổi của người bán dâm tại thời điểm hành vi xảy ra. Nếu người đó đã đủ 16 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi, trường hợp này thuộc tình tiết định khung tại điểm đ khoản 2 Điều 327 BLHS. Nói ngắn gọn: 16 ≤ tuổi .

Đây không phải là một tội danh độc lập mà là tình tiết làm thay đổi khung hình phạt của tội chứa mại dâm. Vì vậy, không nên chỉ dựa vào cách gọi “người chưa thành niên” để kết luận; hồ sơ cần xác định cụ thể ngày, tháng, năm sinh và đối chiếu với thời điểm thực hiện hành vi chứa mại dâm. Chỉ khi đồng thời có căn cứ về hành vi chứa mại dâm và đúng ngưỡng tuổi này mới có cơ sở xem xét áp dụng điểm đ khoản 2.

5.2. Từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi: khoản 3 Điều 327

Trường hợp người bán dâm từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi phải được tách riêng với nhóm 16–17 tuổi, bởi Điều 327 BLHS quy định hậu quả pháp lý ở một khung khác. Cụ thể, nếu hành vi chứa mại dâm được thực hiện đối với người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi, tình tiết này thuộc khoản 3 Điều 327, với khung hình phạt từ 10 năm đến 15 năm tù. Có thể khái quát: 13 ≤ tuổi .

Khi áp dụng, không nên chỉ căn cứ vào việc người bán dâm được xác định là “người chưa thành niên”, mà phải kiểm tra chính xác ngày, tháng, năm sinh và thời điểm hành vi xảy ra. Nếu người đó chưa đủ 16 tuổi tại thời điểm thực hiện hành vi, cần xem xét khoản 3; nếu đã đủ 16 tuổi thì phải chuyển sang đánh giá trường hợp quy định tại điểm đ khoản 2. Ranh giới này cần được xác định từ hồ sơ nhân thân và các tài liệu chứng minh tuổi.

5.3 Vì sao không được gộp “người dưới 18 tuổi” thành một nhóm?

“Người dưới 18 tuổi” chỉ là cách gọi chung về độ tuổi, không phải một ngưỡng pháp lý duy nhất khi áp dụng Điều 327 BLHS. Quy định này phân chia các trường hợp theo từng khoảng tuổi, và mỗi khoảng có hậu quả pháp lý khác nhau. Vì vậy, khi xem xét chứa mại dâm người 16–17 tuổi, không thể chỉ xác định người bán dâm “chưa đủ 18 tuổi” rồi kết luận ngay tình tiết định khung. Cần kiểm tra chính xác ngày, tháng, năm sinh và thời điểm hành vi xảy ra để xác định người đó đã đủ 16 tuổi hay chưa. Nếu thuộc khoảng từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi, trọng tâm của bài là điểm đ khoản 2 Điều 327. Ngược lại, trường hợp người bán dâm thuộc độ tuổi thấp hơn phải được đối chiếu với quy định tương ứng, không gộp chung vào nhóm 16–17 tuổi.

Ranh giới giữa người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi và người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi có ý nghĩa trực tiếp khi xác định khoản áp dụng. Trường hợp thứ hai được phân tích riêng tại bài [Chứa mại dâm người dưới 16 tuổi bị xử lý thế nào?].


✅Phần 6. Chứa mại dâm người 16–17 tuổi khác gì với các tình tiết định khung khác?

6.1 Khác “chứa mại dâm 04 người trở lên”

“Đối với người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi” và “chứa mại dâm 04 người trở lên” là hai tình tiết định khung dựa trên những dữ kiện khác nhau. Tình tiết thứ nhất tập trung vào độ tuổi của người bán dâm, còn tình tiết thứ hai tập trung vào số lượng người bán dâm được xác định trong vụ án. Vì vậy, không thể đồng nhất việc chứa mại dâm một người 16–17 tuổi với trường hợp chứa mại dâm 04 người trở lên. Nếu vụ án vừa có người bán dâm thuộc nhóm 16–17 tuổi, vừa có đủ 04 người bán dâm, cần kiểm tra độc lập từng tình tiết và căn cứ vào diễn biến, chứng cứ cụ thể để xác định quy định áp dụng; không nên lựa chọn hoặc loại bỏ một tình tiết chỉ theo suy luận máy móc.

Ví dụ: A quản lý một cơ sở và cho phép 03 người bán dâm, trong đó có B 17 tuổi, sử dụng địa điểm để bán dâm. Trường hợp này có dữ kiện về độ tuổi 16–17, nhưng chưa có đủ 04 người bán dâm để đặt vấn đề về tình tiết “04 người trở lên”. Ngược lại, nếu có 04 người bán dâm, trong đó B 17 tuổi, thì phải tách hai dữ kiện: một bên là độ tuổi của B, một bên là số lượng người bán dâm. Việc xác định tình tiết định khung phải dựa trên đúng các dữ kiện đã được chứng minh trong hồ sơ, không lấy tiêu chí này thay cho tiêu chí kia.

6.2. Khác “phạm tội 02 lần trở lên”

Tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên” và tình tiết “đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi” tại Điều 327 dựa trên hai căn cứ khác nhau. “Phạm tội 02 lần trở lên” tập trung vào số lần người phạm tội thực hiện hành vi chứa mại dâm; trong khi đó, tình tiết về người 16–17 tuổi tập trung vào độ tuổi của người bán dâm tại thời điểm hành vi xảy ra. Vì vậy, không thể dùng việc một người đã chứa mại dâm nhiều lần để suy ra tình tiết về độ tuổi, hoặc ngược lại. Nếu hồ sơ chứng minh đồng thời cả số lần thực hiện và việc hành vi được thực hiện đối với người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi, các tình tiết tương ứng phải được xem xét độc lập theo quy định của Điều 327.

Ví dụ thực tế: Trong một vụ án, bị cáo thực hiện hành vi chứa mại dâm từ 02 lần trở lên; trong số những lần thực hiện đó có lần chứa mại dâm đối với người bán dâm chưa đủ 18 tuổi. Tòa án xác định các dữ kiện này theo từng tiêu chí: “phạm tội 02 lần trở lên” phản ánh số lần thực hiện hành vi, còn tình tiết “đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi” căn cứ vào độ tuổi của người bán dâm tại thời điểm hành vi xảy ra. Vì vậy, nếu hồ sơ chứng minh đầy đủ cả hai dấu hiệu, không nên gộp chúng thành một tình tiết duy nhất.

6.3. Khác “thu lợi bất chính”

Tình tiết chứa mại dâm người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi và tình tiết thu lợi bất chính được xác định dựa trên hai nhóm dữ kiện khác nhau. Với trường hợp người bán dâm 16–17 tuổi, vấn đề trọng tâm là độ tuổi của người bán dâm tại thời điểm hành vi xảy ra. Đây là đặc điểm liên quan đến đối tượng mà hành vi chứa mại dâm hướng tới.

Trong khi đó, thu lợi bất chính tập trung vào khoản lợi ích mà người thực hiện hành vi chứa mại dâm đã thu được từ hoạt động phạm tội. Vì vậy, số tiền thu được không thể dùng để suy ra người bán dâm thuộc độ tuổi 16–17, cũng như việc người bán dâm 16–17 tuổi không đồng nghĩa với việc đương nhiên có tình tiết về thu lợi.

Ví dụ: A cho B, 17 tuổi, bán dâm tại địa điểm do A quản lý và thu 2 triệu đồng tiền cho thuê phòng. Trong trường hợp có đủ căn cứ xác định hành vi chứa mại dâm, việc B mới 17 tuổi là dữ kiện để xem xét tình tiết “đối với người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi”. Còn khoản 2 triệu đồng phải được đánh giá độc lập theo quy định về thu lợi bất chính; không thể lấy số tiền này để chứng minh B thuộc độ tuổi 16–17.

Khi định khung, cần tách riêng từng dữ kiện và kiểm tra căn cứ chứng minh tương ứng, tránh gộp các tình tiết chỉ vì chúng cùng xuất hiện trong một vụ án.


✅Phần 7. Chứng cứ cần kiểm tra khi xác định người bán dâm 16–17 tuổi

7.1. Tài liệu xác định tuổi

Khi xem xét tình tiết chứa mại dâm người 16–17 tuổi, việc xác định tuổi phải dựa trên tài liệu nhân thân cụ thể, thay vì chỉ căn cứ vào cách trình bày trong lời khai hoặc gọi chung là “người chưa thành niên”. Ngày, tháng, năm sinh cần được đối chiếu với thời điểm thực hiện hành vi chứa mại dâm để xác định người đó có thuộc nhóm từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi hay không. Các tài liệu như giấy khai sinh, giấy tờ nhân thân và hồ sơ hộ tịch có thể là cơ sở quan trọng để kiểm tra dữ kiện này; khi có mâu thuẫn, cần tiếp tục xác minh thay vì suy đoán.

Dữ kiện Ý nghĩa
Giấy khai sinh Căn cứ xác định ngày, tháng, năm sinh
CCCD/giấy tờ nhân thân Đối chiếu thông tin nhận dạng và ngày sinh
Hồ sơ hộ tịch Kiểm tra dữ liệu nhân thân chính thức
Lời khai Nguồn thông tin cần được đối chiếu với tài liệu khác
Tài liệu khác Làm rõ trường hợp thông tin về tuổi có mâu thuẫn

7.2. Tài liệu chứng minh hành vi chứa mại dâm

Không chỉ xác định người bán dâm 16–17 tuổi, cơ quan tiến hành tố tụng còn phải làm rõ người bị truy cứu đã thực hiện hành vi chứa mại dâm đối với người đó. Tài liệu có thể gồm camera, sổ phòng, dữ liệu đặt phòng, tin nhắn, lời khai, dữ liệu dòng tiền, tài liệu thu giữ và các dữ liệu điện tử khác. Chẳng hạn, camera có thể giúp xác định diễn biến tại cơ sở; sổ phòng và dữ liệu đặt phòng làm rõ thời gian, người sử dụng địa điểm; tin nhắn hoặc dòng tiền có thể phản ánh sự thỏa thuận, thu lợi hoặc vai trò của từng người. Tuy nhiên, không có một loại chứng cứ nào mặc nhiên đủ để kết luận hành vi chứa mại dâm. Giá trị chứng minh phải được đánh giá trong mối liên hệ với toàn bộ chứng cứ của vụ án, đồng thời đối chiếu với hành vi thực tế, vai trò và nhận thức của người bị buộc tội.

7.3. Dữ kiện cần kiểm tra → Ý nghĩa pháp lý → Tài liệu cần đối chiếu

Khi xem xét tình tiết chứa mại dâm người 16–17 tuổi, không nên chỉ dựa vào một thông tin riêng lẻ như lời khai về tuổi. Cần đối chiếu đồng thời ngày sinh, thời điểm xảy ra hành vi, người bán dâm cụ thể và hành vi của người bị buộc tội. Mỗi dữ kiện có một ý nghĩa pháp lý khác nhau và phải được kiểm chứng bằng tài liệu phù hợp.

Dữ kiện cần kiểm tra Ý nghĩa pháp lý Tài liệu cần đối chiếu
Ngày sinh của người bán dâm Xác định có thuộc nhóm từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi hay không Giấy khai sinh, hồ sơ nhân thân, tài liệu hộ tịch
Thời điểm bán dâm Chốt độ tuổi của người bán dâm tại thời điểm hành vi xảy ra Dữ liệu thuê phòng, camera, tin nhắn, lời khai
Người bán dâm cụ thể Xác định đúng người là đối tượng của tình tiết định khung Hồ sơ vụ án, lời khai, tài liệu nhân thân
Hành vi của người bị buộc tội Xác định có thực sự thực hiện hành vi chứa mại dâm đối với người đó hay không Lời khai, camera, dữ liệu phòng, tài liệu điện tử
Các lần thực hiện hành vi Kiểm tra có đồng thời phát sinh tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên” hay không Lịch sử thuê phòng, dữ liệu điện tử, lời khai và tài liệu liên quan

Điểm cần chốt là tuổi 16–17 chỉ là một dữ kiện của tình tiết định khung; không thể thay thế việc chứng minh hành vi chứa mại dâm. Vì vậy, việc đánh giá phải đi từ hồ sơ và hành vi thực tế, thay vì suy luận máy móc từ việc người bán dâm chưa đủ 18 tuổi.


✅Phần 8. Ví dụ thực tế về chứa mại dâm người 16–17 tuổi

8.1 Ví dụ 1: Người bán dâm 17 tuổi tại thời điểm xảy ra vụ việc

Giả sử A quản lý một địa điểm và biết B mới 17 tuổi nhưng vẫn cho B sử dụng địa điểm để thực hiện việc bán dâm. Nếu có đủ căn cứ xác định A đã thực hiện hành vi chứa mại dâm đối với B, việc B chưa đủ 18 tuổi tại thời điểm xảy ra hành vi là dữ kiện quan trọng để xem xét điểm đ khoản 2 Điều 327 BLHS. Khi đánh giá hồ sơ, không nên chỉ dựa vào việc B được xác định là “người chưa thành niên”, mà cần kiểm tra chính xác ngày sinh, thời điểm hành vi và chứng cứ thể hiện A biết, cho phép hoặc tạo điều kiện cho việc bán dâm tại địa điểm do mình quản lý.

“Mấu chốt không chỉ là B 17 tuổi, mà phải chứng minh A có hành vi chứa mại dâm đối với B và B chưa đủ 18 tuổi tại thời điểm hành vi xảy ra.”

8.2 Ví dụ 2: Người bán dâm đã đủ 18 tuổi

Nếu tại thời điểm thực hiện hành vi chứa mại dâm, người bán dâm đã đủ 18 tuổi thì không áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 327 chỉ vì trước đó người này từng 16 hoặc 17 tuổi. Mốc tuổi phải được đối chiếu với thời điểm hành vi xảy ra, không phải thời điểm điều tra, truy tố hoặc xét xử. Chẳng hạn, một người 17 tuổi khi bắt đầu làm việc tại cơ sở nhưng đã đủ 18 tuổi khi thực hiện hành vi bán dâm thì không thuộc trường hợp “đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi”. Vì vậy, hồ sơ cần xác định chính xác ngày sinh và thời điểm xảy ra hành vi trước khi áp dụng tình tiết định khung.

8.3 Ví dụ 3: Vừa 16–17 tuổi vừa phạm tội nhiều lần

Một vụ án có thể đồng thời phát sinh tình tiết về độ tuổitình tiết phạm tội 02 lần trở lên, nhưng phải xác định từng tình tiết dựa trên căn cứ riêng. Trong Bản án 45/2022/HS-ST, các bị cáo bị xác định đã thực hiện hành vi chứa mại dâm 04 lần; trong đó có lần sắp xếp cho người mua dâm với một người bán dâm 17 tuổi 5 tháng 3 ngày. Tòa án xác định hành vi này thuộc trường hợp “đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi” và áp dụng điểm c, d, đ khoản 2 Điều 327. Như vậy, độ tuổisố lần phạm tội không thay thế cho nhau mà được xem xét độc lập khi có đủ căn cứ.

Lưu ý: Đây là một bản án cụ thể để minh họa cách Tòa án áp dụng pháp luật, không dùng bản án này để suy ra rằng mọi vụ án có tình tiết tương tự đều đương nhiên được xử lý giống nhau.

Trong các vụ án xảy ra tại nhà nghỉ, khách sạn, việc một người 16–17 tuổi xuất hiện tại cơ sở lưu trú không tự nó quyết định trách nhiệm hình sự của chủ cơ sở. Cần đối chiếu riêng hành vi và vai trò của người quản lý địa điểm; xem thêm [Chủ nhà nghỉ cho thuê phòng mua bán dâm có bị xử lý hình sự không?].


✅Phần 9. Những sai lầm thường gặp khi áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 327

9.1. Chỉ cần có người dưới 18 tuổi là mặc nhiên áp dụng?

Không. Việc một người dưới 18 tuổi xuất hiện tại địa điểm không đồng nghĩa người thực hiện hành vi đương nhiên bị áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 327. Cần xác định người đó có phải là người bán dâm, độ tuổi tại thời điểm hành vi xảy ra, đồng thời làm rõ hành vi chứa mại dâm của người bị truy cứu có liên quan trực tiếp đến người này hay không. Chỉ khi các dữ kiện được chứng minh đầy đủ mới có căn cứ xem xét tình tiết định khung.

9.2. Đồng nhất 16–17 tuổi với dưới 16 tuổi

Đây là sai lầm có thể dẫn đến xác định không đúng khoản áp dụng của Điều 327. Người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi thuộc trường hợp quy định tại điểm đ khoản 2, trong khi người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi thuộc trường hợp quy định tại khoản 3. Hai nhóm tuổi này có ranh giới pháp lý riêng, vì vậy không nên chỉ sử dụng cách gọi chung như “người chưa thành niên” rồi áp dụng cùng một khoản. Khi định khung, phải xác định chính xác tuổi của người bán dâm.

9.3. Chỉ dựa vào lời khai về tuổi

Lời khai về tuổi có thể là một nguồn thông tin, nhưng không nên là căn cứ duy nhất khi tuổi của người bán dâm có ý nghĩa trực tiếp đối với việc định khung hình phạt. Cơ quan tiến hành tố tụng cần đối chiếu với giấy khai sinh, hồ sơ hộ tịch, giấy tờ nhân thân và các tài liệu khác trong hồ sơ. Đặc biệt, phải xác định tuổi tại thời điểm hành vi chứa mại dâm xảy ra, không chỉ căn cứ vào tuổi tại thời điểm điều tra hoặc xét xử.


✅Phần 10. Câu hỏi thường gặp?

❓ Chứa mại dâm người 17 tuổi áp dụng khoản mấy Điều 327?

Chứa mại dâm đối với người 17 tuổi thuộc trường hợp “đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi” tại điểm đ khoản 2 Điều 327 BLHS, nếu hành vi chứa mại dâm được xác định đầy đủ. Đây là tình tiết định khung, không phải một tội danh riêng. Khi áp dụng, cần kiểm tra chính xác ngày, tháng, năm sinh và thời điểm thực hiện hành vi để xác định người bán dâm có thực sự thuộc độ tuổi này hay không.

❓ Chứa mại dâm người 16 tuổi có thuộc điểm đ khoản 2 Điều 327 không?

Có. Người đã đủ 16 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi thuộc phạm vi của điểm đ khoản 2 Điều 327 nếu có căn cứ xác định hành vi chứa mại dâm được thực hiện đối với người đó. “Đủ 16 tuổi” phải được xác định theo ngày sinh cụ thể, không chỉ dựa vào cách gọi chung là “người chưa thành niên”. Nếu người đó chưa đủ 16 tuổi, cần chuyển sang xem xét quy định khác của Điều 327.

❓ Người bán dâm đủ 18 tuổi sau khi vụ việc xảy ra thì có còn áp dụng điểm đ khoản 2 không?

Có thể vẫn áp dụng nếu tại thời điểm hành vi chứa mại dâm xảy ra, người bán dâm đang từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi và các dấu hiệu khác của tình tiết định khung được chứng minh. Việc người này đủ 18 tuổi sau đó không làm thay đổi độ tuổi tại thời điểm hành vi đã xảy ra. Vì vậy, khi xác định tình tiết này phải đặt ngày sinh cạnh thời điểm thực hiện hành vi, thay vì căn cứ vào tuổi tại thời điểm điều tra hoặc xét xử.

❓ Chứa mại dâm người 16–17 tuổi và chứa 04 người trở lên có được áp dụng đồng thời không?

Có thể. Hai tình tiết này phản ánh hai vấn đề pháp lý khác nhau: một bên căn cứ vào độ tuổi của người bán dâm, bên kia căn cứ vào số lượng người bán dâm. Vì vậy, nếu hồ sơ chứng minh đồng thời người bán dâm thuộc nhóm 16–17 tuổi và vụ án có từ 04 người bán dâm trở lên, cần xem xét từng tình tiết theo quy định của Điều 327. Không nên mặc nhiên chọn một tình tiết và bỏ qua tình tiết còn lại.

❓ Chứa mại dâm người 16–17 tuổi khác gì chứa mại dâm người dưới 16 tuổi?

Điểm khác biệt nằm ở ngưỡng tuổi và khoản áp dụng của Điều 327. Người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi thuộc trường hợp quy định tại điểm đ khoản 2. Trong khi đó, trường hợp chứa mại dâm đối với người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi được quy định tại khoản 3. Do đó, không nên dùng cụm “người dưới 18 tuổi” để gộp hai nhóm, mà phải xác định chính xác tuổi của người bán dâm tại thời điểm hành vi xảy ra.

Checklist: Dữ kiện cần kiểm tra → Ý nghĩa pháp lý → Tài liệu cần đối chiếu

Trước khi kết luận có áp dụng tình tiết “đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi” trong Điều 327 hay không, cần tách từng dữ kiện thay vì chỉ căn cứ vào việc người bán dâm chưa đủ 18 tuổi.

Dữ kiện cần kiểm tra Ý nghĩa pháp lý Tài liệu cần đối chiếu
Tuổi của người bán dâm Xác định có thuộc ngưỡng từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi hay không CCCD, giấy khai sinh, hồ sơ nhân thân hoặc tài liệu xác định ngày sinh
Ngày, giờ thực hiện hành vi Tuổi phải được xác định tại thời điểm hành vi chứa mại dâm xảy ra Lời khai, tin nhắn, dữ liệu điện tử, biên bản, tài liệu điều tra
Hành vi cụ thể của người bị buộc tội Phải chứng minh có hành vi chứa mại dâm, không chỉ chứng minh người bán dâm 16–17 tuổi Lời khai, camera, dữ liệu đặt phòng, sổ sách, giao dịch, lời khai người liên quan
Mối liên hệ giữa hành vi chứa mại dâm và người 16–17 tuổi Làm rõ tình tiết định khung có gắn với chính hành vi bị truy cứu hay không Hồ sơ vụ án, lời khai, dữ liệu liên lạc và các chứng cứ liên quan
Các tình tiết khác của vụ án Một vụ án có thể đồng thời xuất hiện nhiều tình tiết định khung khác nhau Cáo trạng, kết luận điều tra, chứng cứ về số lần, số người, thu lợi...

Lưu ý: “người bán dâm 16–17 tuổi” chỉ là một dữ kiện về độ tuổi. Để áp dụng đúng Điều 327, phải đặt dữ kiện này trong toàn bộ chuỗi độ tuổi → thời điểm thực hiện hành vi → hành vi chứa mại dâm → mối liên hệ với người bị hại → các tình tiết định khung khác. Đây là cách hạn chế việc suy luận máy móc từ một tài liệu nhân thân sang kết luận về trách nhiệm hình sự.

✅Phần 11. Kết luận: Chứa mại dâm người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi cần xác định đúng những gì?

Khi xem xét chứa mại dâm người 16–17 tuổi, không nên chỉ căn cứ vào việc người bán dâm chưa đủ 18 tuổi. Đây là một ngưỡng tuổi riêng được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 327 BLHS, khác với trường hợp người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi. Vì vậy, việc xác định tuổi phải được thực hiện chính xác tại thời điểm hành vi chứa mại dâm xảy ra, trên cơ sở các tài liệu nhân thân và chứng cứ phù hợp.

Đồng thời, cơ quan tiến hành tố tụng vẫn phải chứng minh đầy đủ hành vi chứa mại dâm của người bị truy cứu; việc xác định người bán dâm 16–17 tuổi không tự động làm phát sinh trách nhiệm hình sự.

Nếu vụ việc thực tế có tình tiết này, cần rà soát riêng tài liệu xác định tuổi, thời điểm xảy ra hành vi, vai trò của người bị buộc tội và các tình tiết định khung khác. Việc đối chiếu toàn bộ hồ sơ giúp tránh áp dụng Điều 327 theo suy luận đơn giản từ độ tuổi của người bán dâm.

☎️ Liên hệ luật sư Hotline/Telegram/Zalo: 0338 919 686 | 0969 566 766

Website: https://luatdungtrinh.vn|

Email:luatdungtrinh@gmail.com|

  • Tags

Tin liên quan

Trình tự, thủ tục khởi tố vụ án hình sự từ A–Z theo quy định mới nhất
Khởi tố vụ án hình sự là bước đầu tiên trong tố tụng nhằm xác định có hay không dấu hiệu tội phạm. Quy trình khởi tố vụ án hình sự bao gồm tiếp nhận tin báo, xác minh và ra quyết định theo luật định. Việc hiểu rõ điều kiện khởi tố, thời hạn xử lý giúp cá nhân, doanh nghiệp bảo vệ quyền lợi hợp pháp
Người giúp sức cho việc trốn đi nước ngoài có bị xử lý?
Người giúp sức cho việc trốn đi nước ngoài có thể bị xử lý hình sự nếu biết rõ hành vi phạm tội và cố ý tạo điều kiện cho việc thực hiện tội phạm. Người giúp sức không nhất thiết trực tiếp đưa người ra nước ngoài. Trách nhiệm được xác định dựa trên hành vi hỗ trợ, nhận thức, ý chí và vai trò cụ thể trong vụ án.
Tham ô tài sản bao nhiêu tiền thì bị truy cứu?
Theo Điều 353 BLHS, hành vi tham ô tài sản về nguyên tắc bị truy cứu khi tài sản bị chiếm đoạt có giá trị từ 2 triệu đồng đến dưới 100 triệu đồng. Trường hợp dưới 2 triệu đồng vẫn có thể bị truy cứu nếu người thực hiện đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm hoặc đã bị kết án về một trong các tội thuộc Mục 1 Chương XXIII và chưa được xóa án tích.
Trách nhiệm hình sự của pháp nhân khi vi phạm quy định về PCCC?
Pháp nhân thương mại có thể phải chịu trách nhiệm hình sự khi vi phạm quy định về PCCC nếu hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân, vì lợi ích của pháp nhân và đáp ứng các điều kiện theo Bộ luật Hình sự. Trách nhiệm của pháp nhân được xem xét độc lập với trách nhiệm hình sự của cá nhân liên quan.
Tham ô tài sản có bị tử hình không?
Theo quy định hiện hành, tội tham ô tài sản không còn bị phạt tử hình. Từ ngày 01/7/2025, Luật 86/2025/QH15 sửa Điều 353 Bộ luật Hình sự, bỏ hình phạt tử hình đối với tội tham ô. Trường hợp đặc biệt nghiêm trọng có mức hình phạt cao nhất là 20 năm tù hoặc tù chung thân. Một số trường hợp đã bị tuyên tử hình trước ngày 01/7/2025 được áp dụng quy định chuyển tiếp.
Người dân có quyền tố cáo cán bộ công an không?
Người dân có quyền tố cáo cán bộ công an vi phạm pháp luật không? Phân tích Điều 32 BLTTHS 2015, thẩm quyền, thời hạn, thủ tục và bảo vệ người tố cáo.
Hình fanpage
tvpl
Thông tin luật sư
Đoàn luật sư
Thành phố Hà Nội

Luật sư: TRỊNH VĂN DŨNG

Điện thoại: 0969566766

Zalo: 0338919686

Liên hệ Luật sư qua: youtube
Liên hệ Luật sư qua: tiktok
Liên hệ Luật sư qua: email
Khách hàng đặt câu hỏi tư vấn