Trịnh Văn Dũng
- 24/08/2026
- 1
Trường hợp người đã có tiền án về tội trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích, sau đó thực hiện 02 hành vi trộm cắp, trong đó một hành vi đủ định lượng và một hành vi dưới 2 triệu đồng, có thể bị truy cứu về cả hai hành vi. Tình tiết “đã bị kết án” dùng để định tội lần sau, nên áp dụng phạm tội 02 lần trở lên, không dùng đồng thời làm tình tiết tái phạm.
Phạm tội 02 lần trở lên là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự khi người phạm tội thực hiện từ hai lần phạm tội độc lập trở lên. Trường hợp tiền án được sử dụng làm dấu hiệu định tội thì không tiếp tục dùng để xác định tái phạm.
✅Phần 1. MỞ ĐẦU
Nguyễn Văn A đã có tiền án về tội trộm cắp tài sản nhưng chưa được xóa án tích. Sau đó, A tiếp tục thực hiện 02 hành vi trộm cắp, trong đó một hành vi có giá trị tài sản đạt mức định lượng theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, còn hành vi thứ hai có giá trị dưới mức định lượng nhưng vẫn có thể cấu thành tội phạm do A đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản và chưa được xóa án tích. Từ đó phát sinh vấn đề: A bị áp dụng tình tiết “tái phạm” hay “phạm tội 02 lần trở lên”?
Điểm cần phân biệt là tiền án cũ được sử dụng như dấu hiệu định tội đối với hành vi thứ hai, trong khi hai hành vi mới đều có thể là những lần phạm tội độc lập. Vì vậy, cần xem xét quy định tại Điều 173, Điều 52 BLHS và hướng dẫn tại Nghị quyết 04/2025/NQ-HĐTP để xác định chính xác tình tiết tăng nặng.
Việc xác định đúng tình tiết tăng nặng phải đặt trong mối quan hệ giữa Điều 173 và Điều 52 Bộ luật Hình sự, đặc biệt nguyên tắc không sử dụng một tình tiết vừa là dấu hiệu định tội vừa làm tình tiết tăng nặng. Đây là điểm mấu chốt để phân biệt tái phạm với phạm tội 02 lần trở lên trong trường hợp này.
- Hành vi trộm cắp lần 01 đủ định lượng: Có thể bị truy cứu về Tội trộm cắp tài sản theo Điều 173 BLHS.
- Hành vi lần 02 dưới 2 triệu đồng: Vẫn có thể cấu thành tội phạm nếu trước đó A đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản và chưa được xóa án tích.
- Tiền án chưa xóa án tích: Trong trường hợp này được sử dụng làm dấu hiệu định tội đối với hành vi lần 02.
- Theo nguyên tắc tại khoản 2 Điều 52 BLHS, tình tiết đã là dấu hiệu định tội thì không được sử dụng tiếp làm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Vì vậy, khi cả 02 hành vi đều đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp, có cơ sở xác định tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên” theo điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS.
- Không nên đồng nhất “tiền án chưa xóa án tích” với “tái phạm” trong mọi trường hợp; phải xác định tiền án đang được sử dụng với tư cách dấu hiệu định tội hay tình tiết tăng nặng.
- Điểm mấu chốt là phải tách riêng từng hành vi trộm cắp, xác định căn cứ cấu thành tội phạm của từng lần trước khi xem xét tình tiết tăng nặng.
✅Phần 2.Trường hợp A trộm cắp 02 lần được xác định như thế nào?
Trong tình huống giả định, A đã có 01 tiền án về tội trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích, sau đó tiếp tục thực hiện 02 hành vi trộm cắp mới. Một hành vi đạt định lượng theo khoản 1 Điều 173 BLHS, hành vi còn lại dưới mức định lượng nhưng có căn cứ truy cứu do tiền án chưa được xóa. Vì vậy, cần tách từng hành vi để xác định cấu thành tội phạm, sau đó mới xem xét tình tiết tăng nặng.
2.1. Tóm tắt dữ kiện pháp lý của tình huống
Tình huống cần được phân tích theo từng hành vi trộm cắp độc lập, thay vì gộp cả 02 lần với tiền án cũ để kết luận ngay là tái phạm. A đã có một tiền án về Tội trộm cắp tài sản và chưa được xóa án tích. Sau đó, A tiếp tục thực hiện 02 hành vi mới. Hành vi thứ nhất đạt ngưỡng định lượng theo khoản 1 Điều 173 BLHS nên có căn cứ xem xét trách nhiệm hình sự. Hành vi thứ hai không đạt ngưỡng định lượng, nhưng tiền án chưa được xóa có thể trở thành căn cứ để xử lý hình sự nếu đáp ứng điều kiện mà Điều 173 quy định. Vì vậy, vấn đề pháp lý trọng tâm là xác định tiền án cũ đang được sử dụng làm dấu hiệu định tội hay tình tiết tăng nặng, từ đó phân biệt “tái phạm” với “phạm tội 02 lần trở lên”.
| Dữ kiện | Tình trạng pháp lý |
|---|---|
| Tiền án cũ | Tội trộm cắp tài sản |
| Án tích | Chưa được xóa |
| Hành vi mới 1 | Đủ định lượng theo Điều 173 |
| Hành vi mới 2 | Không đủ định lượng nhưng có tiền án chưa xóa án tích |
| Căn cứ xử lý lần 1 | Khoản 1 Điều 173 BLHS |
| Căn cứ xử lý lần 2 | Điều 173 BLHS do đáp ứng điều kiện “đã bị kết án…” |
| Vấn đề pháp lý | Xác định tái phạm hay phạm tội 02 lần trở lên |
Điểm cần lưu ý: tiền án cũ không mặc nhiên được tính là một trong “02 lần phạm tội” của A. Cần phân biệt tiền án dùng để định tội đối với hành vi mới với các hành vi phạm tội mới được thực hiện sau đó. Đây chính là nút thắt pháp lý quyết định cách áp dụng điểm g khoản 1 và khoản 2 Điều 52 BLHS.
2.2. Điểm pháp lý cần giải quyết
Vấn đề pháp lý trọng tâm không nằm ở việc A “đã có tiền án” mà ở vai trò pháp lý của tiền án trong từng hành vi mới. Cần lần lượt xác định: (1) hai hành vi trộm cắp sau có đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản độc lập hay không; (2) tiền án chưa được xóa án tích được sử dụng như dấu hiệu định tội đối với hành vi thứ hai hay là căn cứ xác định tái phạm; và (3) sau khi đã dùng tiền án để định tội, có được tiếp tục sử dụng chính tình tiết đó làm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự hay không.
Lưu ý: Đây là điểm mấu chốt cần phân biệt rõ dấu hiệu định tội – tình tiết định khung – tình tiết tăng nặng, tránh tính hai lần cùng một tình tiết khi lượng hình.
2.3. Kết luận nhanh
Trong tình huống A, nếu cả 02 hành vi trộm cắp được thực hiện sau khi có tiền án đều độc lập và đủ yếu tố cấu thành Tội trộm cắp tài sản, thì cần xem xét tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên” theo điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS. Đối với hành vi thứ hai có giá trị tài sản dưới mức định lượng, tiền án về tội chiếm đoạt tài sản chưa được xóa án tích được sử dụng làm căn cứ định tội theo Điều 173 BLHS. Vì vậy, theo nguyên tắc không sử dụng lại dấu hiệu đã là căn cứ định tội làm tình tiết tăng nặng, không lấy chính tiền án này để xác định tái phạm; trọng tâm là đánh giá độc lập 02 hành vi mới.
Điều 52. Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
1. Chỉ các tình tiết sau đây mới là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
g) Phạm tội 02 lần trở lên;
✅Phần 3. Hành vi trộm cắp thứ nhất: Đủ định lượng thì xử lý thế nào?
3.1. Khi nào hành vi thứ nhất cấu thành tội trộm cắp?
Hành vi trộm cắp thứ nhất được xác định là tội trộm cắp tài sản khi người thực hiện có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác, có lỗi cố ý và giá trị tài sản đạt ngưỡng luật định để truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 173 BLHS. Trường hợp đủ định lượng, việc xác định trách nhiệm hình sự của hành vi này không phụ thuộc vào tiền án trước đó, mà phải căn cứ vào chính các dấu hiệu cấu thành tội phạm của lần chiếm đoạt. Nói cách khác, nếu tài sản bị chiếm đoạt có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên và các dấu hiệu pháp lý khác được chứng minh đầy đủ thì hành vi đã đủ căn cứ xử lý hình sự. Tiền án chưa được xóa án tích chỉ cần được xem xét ở bước đánh giá các hành vi tiếp theo và tình tiết tăng nặng, không phải điều kiện làm phát sinh trách nhiệm hình sự đối với hành vi thứ nhất.
3.2. Hành vi thứ nhất được tính là một lần phạm tội mới
Hành vi trộm cắp thứ nhất được xác định là một lần phạm tội mới nếu tại thời điểm thực hiện, người phạm tội có đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 BLHS. Việc người này đã có tiền án chưa được xóa án tích không làm mất tính độc lập của hành vi mới. Tiền án cũ là tình tiết thuộc về quá khứ pháp lý của người phạm tội, còn hành vi thứ nhất phải được đánh giá dựa trên chính hành vi, giá trị tài sản và các điều kiện truy cứu của lần phạm tội mới. Vì vậy, hành vi này được tính là lần phạm tội thứ nhất trong chuỗi 02 hành vi được xem xét.
3.3. Vì sao cần tách hành vi thứ nhất khỏi tiền án cũ?
Khi phân tích trường hợp này, cần tách độc lập tiền án cũ, hành vi trộm cắp thứ nhất và hành vi trộm cắp thứ hai. Tiền án cũ là sự kiện pháp lý xảy ra trước các hành vi mới, không đồng nhất với một lần phạm tội mới. Đối với hành vi thứ nhất, nếu đã đủ định lượng và đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm thì có thể truy cứu theo khoản 1 Điều 173 mà không cần sử dụng tiền án cũ để định tội. Cách tách này là cơ sở để xác định chính xác tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên” ở bước sau.
Công thức cần ghi nhớ: án cũ ≠ hành vi mới lần 1 ≠ hành vi mới lần 2.
Điều 173, BLHS hiện hành
Điều 173. Tội trộm cắp tài sản
1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ;
đ) Tài sản là di vật, cổ vật.
✅Phần 4. Hành vi trộm cắp thứ hai dưới định lượng có bị truy cứu không?
Có. Hành vi trộm cắp thứ hai dù giá trị tài sản dưới mức định lượng thông thường vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu người thực hiện trước đó đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích và các điều kiện khác của Điều 173 BLHS được đáp ứng. Điểm cần phân biệt là tiền án cũ trong trường hợp này có thể trở thành dấu hiệu định tội đối với hành vi thứ hai, thay vì được đồng thời sử dụng như một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
4.1. Dưới định lượng nhưng vẫn có thể cấu thành tội phạm
Không phải cứ tài sản dưới mức định lượng tại khoản 1 Điều 173 BLHS thì hành vi đương nhiên không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Trường hợp người thực hiện đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà tiếp tục trộm cắp, thì điều kiện về giá trị tài sản có thể được thay thế bởi chính tình trạng án tích theo quy định của Điều 173.
Đối với tình huống đang phân tích, hành vi trộm cắp thứ hai có giá trị dưới định lượng nhưng A đã có tiền án về Tội trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích. Nếu hành vi mới đồng thời đáp ứng đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội trộm cắp, A vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội trộm cắp tài sản. Điểm cần lưu ý là tình tiết “đã bị kết án” trong trường hợp này được sử dụng làm dấu hiệu định tội, không tiếp tục sử dụng chính tình tiết đó như một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Mốc định lượng về giá trị tài sản trong Điều 173 chỉ là điều kiện thông thường để xác định trách nhiệm hình sự. Khoản 1 Điều 173 còn quy định những trường hợp ngoại lệ, trong đó có trường hợp người thực hiện đã bị kết án về một trong các tội chiếm đoạt tài sản mà chưa được xóa án tích mà tiếp tục thực hiện hành vi chiếm đoạt.
Vì vậy, cần phân tích hành vi thứ hai theo hai bước:
- Giá trị tài sản không đạt định lượng cơ bản → nếu chỉ xét giá trị thì chưa đủ căn cứ truy cứu.
- Kiểm tra tiền án chưa được xóa án tích → nếu đáp ứng đúng trường hợp mà Điều 173 quy định, yếu tố này bổ sung căn cứ định tội cho hành vi mới.
Đây chính là điểm khác biệt giữa “dưới định lượng” và “không cấu thành tội phạm”. Một hành vi dưới định lượng vẫn có thể cấu thành tội trộm cắp nếu rơi vào trường hợp đặc biệt mà điều luật quy định.
Không nên đồng nhất: “tài sản dưới 2 triệu đồng” = “chỉ xử phạt hành chính”. Với trường hợp đang phân tích, trọng tâm không phải là bài toán trộm dưới 2 triệu đồng, mà là chức năng của tiền án chưa được xóa án tích trong việc định tội đối với hành vi trộm cắp thứ hai.
Trường hợp tài sản có giá trị dưới mức định lượng cần được phân tích riêng theo các điều kiện mà khoản 1 Điều 173 đặt ra. Nếu cần làm rõ toàn bộ các trường hợp trộm cắp tài sản dưới 2 triệu đồng vẫn bị truy cứu hình sự, có thể xem bài phân tích chuyên biệt về vấn đề này.
4.2. Tiền án cũ được sử dụng làm dấu hiệu định tội
Trong trường hợp hành vi trộm cắp thứ hai có giá trị tài sản dưới định lượng nhưng người thực hiện đã có tiền án chưa được xóa án tích về tội chiếm đoạt tài sản, tiền án cũ có thể được sử dụng như một dấu hiệu định tội để xác định hành vi mới thuộc phạm vi Điều 173 BLHS.
Cần hiểu đúng chức năng pháp lý của yếu tố này. Tiền án không đơn thuần được đưa vào để đánh giá nhân thân hoặc mặc nhiên xác định tái phạm. Đối với hành vi thứ hai dưới định lượng, việc người phạm tội đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích là căn cứ làm phát sinh trách nhiệm hình sự theo trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 173.
Do đó, khi hành vi thứ hai đã sử dụng yếu tố “đã bị kết án, chưa được xóa án tích” để định tội, thì không tiếp tục lấy chính dấu hiệu đó làm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Cách hiểu này phù hợp với nguyên tắc tại khoản 2 Điều 52 BLHS: tình tiết đã là dấu hiệu định tội hoặc định khung thì không được sử dụng thêm để tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Lưu ý: Không nên mặc định “cứ có tiền án là bị truy cứu”. Cần xác định loại tiền án, tình trạng xóa án tích, tội danh trước đó và sự phù hợp với điều kiện của Điều 173.
Điều 52. Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
2. Các tình tiết đã được Bộ luật này quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng.
4.3. Vì sao không được dùng cùng một tình tiết hai lần?
Theo khoản 2 Điều 52 BLHS, các tình tiết đã được Bộ luật Hình sự quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt thì không được tiếp tục sử dụng làm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Nguyên tắc này nhằm tránh việc một tình tiết bị tính bất lợi cho người phạm tội nhiều lần trong cùng một vụ án.
Trong trường hợp đang phân tích, việc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản và chưa được xóa án tích là căn cứ để xác định hành vi trộm cắp thứ hai dưới định lượng vẫn có thể cấu thành tội phạm theo Điều 173. Vì vậy, không thể tiếp tục lấy chính tiền án này để mặc nhiên áp dụng tình tiết tăng nặng “tái phạm” nếu việc áp dụng dẫn đến sử dụng trùng dấu hiệu pháp lý.
Cách hướng dẫn này cũng được Nghị quyết 04/2025/NQ-HĐTP thể hiện theo nguyên tắc loại trừ việc sử dụng lại tình tiết đã là dấu hiệu định tội hoặc định khung làm tình tiết tăng nặng.
Nội dung này cũng được Nghị quyết 04/2025/NQ-HĐTP hướng dẫn theo hướng loại trừ việc sử dụng lại tình tiết đã là dấu hiệu định tội/định khung làm tình tiết tăng nặng.
Để xác định hành vi thứ hai có đủ căn cứ truy cứu hay không, trước hết cần đặt hành vi vào đúng cấu thành và điều kiện truy cứu tội trộm cắp tài sản theo Điều 173 BLHS. Tuy nhiên, trong trường hợp đang phân tích, trọng tâm không nằm ở việc giải thích lại toàn bộ Điều 173 mà ở vai trò của tiền án chưa được xóa đối với hành vi có giá trị tài sản dưới ngưỡng định lượng.
4.4. Tiền án chưa xóa án tích có đồng nghĩa với tái phạm không?
Không đồng nghĩa. Đây là điểm cần làm rõ để tránh nhầm lẫn giữa dấu hiệu định tội và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Một người có tiền án chưa được xóa án tích có thể thuộc trường hợp tái phạm nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện của Điều 53 BLHS. Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp có tiền án chưa xóa án tích đều tự động được xác định là tái phạm.
Trong tình huống A:
- Hành vi trộm cắp thứ nhất đủ định lượng → bị truy cứu về tội trộm cắp tài sản.
- Hành vi trộm cắp thứ hai dưới định lượng → việc A đã có tiền án chưa xóa án tích là căn cứ để xem xét trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 173.
- Khi tiền án cũ đã được sử dụng làm dấu hiệu định tội cho hành vi thứ hai, không được tiếp tục sử dụng chính dấu hiệu đó để áp dụng tình tiết tăng nặng.
Điểm cần tách bạch là: “đã bị kết án, chưa được xóa án tích” là dữ kiện pháp lý của cấu thành trong trường hợp đặc biệt; còn “tái phạm” là một tình tiết tăng nặng được xác định theo các điều kiện riêng của BLHS.
✅Phần 5. Vì sao trường hợp này không đơn thuần là “tái phạm”?
5.1. Tái phạm được xác định dựa trên quan hệ nào?
Tái phạm trong trường hợp này phải được xem xét dựa trên quan hệ giữa bản án trước và lần phạm tội mới, không phải chỉ dựa vào việc A có tiền án chưa được xóa án tích. Theo khoản 1 Điều 53 Bộ luật Hình sự, cần xác định A đã bị kết án, chưa được xóa án tích và sau đó lại thực hiện một tội phạm do cố ý hoặc tội phạm rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng do vô ý thuộc trường hợp luật định.
Tuy nhiên, với tình huống A thực hiện 02 hành vi trộm cắp mới, cần tách từng hành vi để xác định căn cứ truy cứu. Đặc biệt, hành vi có giá trị dưới ngưỡng định lượng nhưng được truy cứu nhờ tình tiết “đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích” sẽ có cách xử lý khác về tình tiết tăng nặng. Đây là điểm khiến vụ việc không thể chỉ kết luận đơn giản là “tái phạm
5.2. Tiền án cũ khác với 02 hành vi phạm tội mới
Cần tách tiền án cũ khỏi 02 hành vi trộm cắp được thực hiện sau đó để tránh đồng nhất việc “có tiền án” với “tái phạm”.
Bản án cũ → chưa được xóa án tích → hành vi trộm cắp mới 1 → hành vi trộm cắp mới 2.
Ví dụ: A từng bị kết án về tội trộm cắp tài sản và chưa được xóa án tích. Sau đó, A thực hiện hành vi trộm cắp thứ nhất với tài sản đủ định lượng theo khoản 1 Điều 173 BLHS, rồi tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp thứ hai với tài sản dưới 2 triệu đồng. Hành vi thứ hai vẫn có thể bị truy cứu do A đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích.
Ở đây, tái phạm xem xét quan hệ giữa tiền án cũ và hành vi mới; còn “phạm tội 02 lần trở lên” xem xét 02 lần phạm tội mới của A.
5.3. Vì sao không lấy tiền án cũ làm tình tiết tăng nặng lần nữa?
Không được “cộng dồn” tiền án cũ vừa làm căn cứ định tội, vừa tiếp tục sử dụng chính tình tiết đó để tăng nặng trách nhiệm hình sự. Đây là nguyên tắc trực tiếp tại khoản 2 Điều 52 BLHS: những tình tiết đã được quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng.
Trong tình huống đang phân tích, cần tách rõ tiền án cũ và hai hành vi trộm cắp mới:
- Hành vi thứ nhất: tài sản đạt định lượng theo khoản 1 Điều 173 → đủ căn cứ định tội trộm cắp tài sản.
- Hành vi thứ hai: tài sản dưới 2 triệu đồng nhưng A đã bị kết án về tội trộm cắp, chưa được xóa án tích → tình trạng tiền án chưa xóa án tích trở thành dấu hiệu để định tội đối với hành vi thứ hai theo khoản 1 Điều 173.
- Vì đã sử dụng tình tiết này để xác định hành vi thứ hai cấu thành tội phạm, không thể lấy lại chính tình tiết “đã bị kết án, chưa được xóa án tích” để cộng thêm một lần nữa với tư cách tình tiết tăng nặng theo khoản 2 Điều 52.
Điểm quan trọng là không được đồng nhất “tiền án chưa xóa án tích” với “tái phạm”. Điều 53 BLHS quy định điều kiện xác định tái phạm; trong khi điểm g khoản 1 Điều 52 quy định “phạm tội 02 lần trở lên” là một tình tiết tăng nặng độc lập.
Vì vậy, sau khi loại trừ việc sử dụng trùng tiền án cũ, cần chuyển sang xem xét hai hành vi trộm cắp mới có phải là hai lần phạm tội độc lập hay không. Nếu hành vi thứ nhất và hành vi thứ hai đều đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản và đều chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự trước đó, thì có cơ sở xem xét tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên” theo điểm g khoản 1 Điều 52.
Nghị quyết 04/2025/NQ-HĐTP ngày 30/9/2025 của Hội đồng thẩm phán TAND TC quy định về "tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm"
Điều 4. Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự
8. ‘‘Tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự là những trường hợp phạm tội quy định tại Điều 53 của Bộ luật Hình sự.
Ví dụ: Tháng 6/2024, Nguyễn Văn A đã bị kết án 06 tháng tù về Tội trộm cắp tài sản (đã chấp hành xong hình phạt). Tháng 10/2025, Nguyễn Văn A lại tiếp tục trộm cắp xe máy với trị giá 20.000.000 đồng. Trường hợp này, Nguyễn Văn A bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Tái phạm” và “phạm tội 02 lần trở lên” đều là các tình tiết tăng nặng nhưng có điều kiện áp dụng khác nhau. Để tránh nhầm lẫn về điều kiện xác định án tích, bản án trước và hành vi phạm tội mới, có thể xem thêm bài tái phạm trong tội trộm cắp tài sản.
✅Phần 6. Khi nào được xác định “phạm tội 02 lần trở lên”?
Theo Nghị quyết 04/2025/NQ-HĐTP ngày 30/9/2025 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC, tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên” được xác định khi người phạm tội thực hiện từ 02 lần phạm tội trở lên đối với cùng một tội phạm, mỗi lần đều có đủ yếu tố cấu thành tội phạm, chưa lần nào bị truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.
6.1. Điều kiện thứ nhất: Có từ 02 lần phạm tội trở lên
“Phạm tội 02 lần trở lên” trước hết đòi hỏi người phạm tội phải thực hiện từ 02 hành vi phạm tội trở lên đối với cùng một tội danh. Mỗi hành vi phải được đánh giá độc lập và đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Đồng thời, các hành vi đó chưa lần nào bị truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.
Ví dụ: A đã có 01 tiền án về tội trộm cắp tài sản và chưa được xóa án tích. Sau đó, A thực hiện hành vi (1) lén lút lấy tài sản trị giá 5 triệu đồng và hành vi (2) lén lút lấy tài sản trị giá 1,5 triệu đồng. Hành vi (1) đủ định lượng theo khoản 1 Điều 173 BLHS. Hành vi (2) dưới 2 triệu đồng nhưng do A đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản và chưa được xóa án tích nên vẫn có thể cấu thành tội trộm cắp theo trường hợp luật định. Như vậy, hai hành vi mới đều cấu thành tội trộm cắp, là cơ sở xem xét tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên”.
6.2. Điều kiện thứ hai: Mỗi lần đều phải đủ yếu tố cấu thành
Đây là điều kiện có ý nghĩa quyết định khi xác định tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên”. Không thể suy luận rằng cứ thực hiện hành vi trộm cắp 02 lần thì đương nhiên được tính là phạm tội 02 lần trở lên. Từng hành vi phải được xem xét độc lập và đều phải đủ các dấu hiệu cấu thành tội trộm cắp tài sản theo Điều 173 BLHS.
Ví dụ: A thực hiện lần 1, chiếm đoạt tài sản trị giá 5 triệu đồng nên đủ định lượng truy cứu trách nhiệm hình sự. Lần 2, A chiếm đoạt tài sản trị giá 1,5 triệu đồng. Nếu chỉ xét giá trị tài sản thì lần 2 chưa đạt ngưỡng 2 triệu đồng. Tuy nhiên, A đã có tiền án về tội trộm cắp tài sản và chưa được xóa án tích; do đó, nếu đáp ứng trường hợp định tội tại khoản 1 Điều 173, hành vi lần 2 vẫn có thể cấu thành tội phạm. Khi cả hai hành vi đều đủ yếu tố cấu thành, mới có cơ sở xem xét “phạm tội 02 lần trở lên”.
6.3. Điều kiện thứ ba: Chưa lần nào bị truy cứu trách nhiệm hình sự
Theo hướng dẫn mới tại Nghị quyết 04/2025/NQ-HĐTP, để xác định tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên”, các lần phạm tội phải đáp ứng điều kiện chưa lần nào bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Ý nghĩa của điều kiện này là bảo đảm các hành vi được xem xét trong cùng vụ án hoặc cùng quá trình xử lý chưa từng được cơ quan có thẩm quyền đưa ra truy cứu độc lập trước đó. Nếu một hành vi đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự và sau đó người phạm tội tiếp tục thực hiện hành vi mới, việc đánh giá phải chuyển sang xem xét tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm, nếu đáp ứng các điều kiện tương ứng, thay vì tiếp tục cộng hành vi trước vào tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên”.
Ví dụ: A thực hiện hai vụ trộm cắp vào các thời điểm khác nhau nhưng cả hai hành vi đều được phát hiện và xử lý trong cùng vụ án, chưa lần nào A bị truy cứu trách nhiệm hình sự riêng trước đó. Khi mỗi hành vi đều đủ cấu thành tội phạm, có cơ sở xem xét “phạm tội 02 lần trở lên”.
6.4. Áp dụng vào trường hợp A
Trong tình huống của A, cần tách 02 hành vi trộm cắp mới để đánh giá độc lập. Hành vi mới thứ nhất đủ định lượng theo khoản 1 Điều 173 BLHS nên cấu thành Tội trộm cắp tài sản. Hành vi mới thứ hai tuy không đủ định lượng nhưng do A đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích, nên vẫn có thể cấu thành tội phạm theo khoản 1 Điều 173 BLHS. Như vậy, cả hai hành vi đều là Tội trộm cắp tài sản, xảy ra sau tiền án nhưng chưa có hành vi nào được xét xử trước đó. Do đó, mỗi hành vi được xác định là một lần phạm tội độc lập và có cơ sở áp dụng tình tiết tăng nặng “phạm tội 02 lần trở lên” theo điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS.
Nghị quyết 04/2025/NQ-HĐTP ngày 30/9/2025 của Hội đồng thẩm phán TAND TC đã hướng dẫn cụ thể điều kiện xác định “phạm tội 02 lần trở lên”.
Điều 4. Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự
7. “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự là trường hợp người phạm tội đã thực hiện từ 02 lần phạm tội trở lên đối với một tội phạm mà mỗi lần phạm tội đều có đủ yếu tố cấu thành tội phạm nhưng chưa có lần nào bị truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.
Ví dụ: Tháng 01/2025, Nguyễn Văn A đã 03 lần lấy trộm xe máy của người dân với trị giá tài sản mỗi lần trộm cắp đều trên 2.000.000 đồng, tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 60.000.000 đồng, nhưng chưa lần nào bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Trường hợp này, Nguyễn Văn A bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự
Trường hợp A là một tình huống đặc thù vì một trong các hành vi mới chỉ đủ căn cứ cấu thành nhờ tình trạng án tích chưa được xóa. Để xem đầy đủ các trường hợp áp dụng tình tiết này, có thể tham khảo bài phạm tội 02 lần trở lên trong tội trộm cắp tài sản.
✅Phần 7. Vì sao áp dụng “phạm tội 02 lần trở lên” thay vì dùng lại tiền án cũ?
7.1. Tiền án cũ đã hoàn thành chức năng định tội ở hành vi thứ hai
Trong tình huống này, tiền án về tội trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích có ý nghĩa đặc biệt đối với hành vi trộm cắp thứ hai có giá trị tài sản dưới 2 triệu đồng. Đây chính là căn cứ để đáp ứng trường hợp định tội theo khoản 1 Điều 173 BLHS, khi người thực hiện đã bị kết án về hành vi chiếm đoạt tài sản mà chưa được xóa án tích. Nói cách khác, “đã bị kết án” đã được sử dụng như một dấu hiệu định tội đối với hành vi thứ hai. Khi một tình tiết đã hoàn thành chức năng làm căn cứ xác định hành vi thứ hai cấu thành tội phạm, không thể tiếp tục lấy chính tình tiết đó để tăng nặng trách nhiệm hình sự cho cùng hành vi theo cách trùng lặp. Vì vậy, cần chuyển trọng tâm sang số lần phạm tội mới để xác định tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên”
7.2. Khoản 2 Điều 52 ngăn việc sử dụng trùng lặp
Khoản 2 Điều 52 BLHS đặt ra nguyên tắc quan trọng: các tình tiết đã là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Do đó, trong trường hợp này cần tách bạch hai chức năng pháp lý. Một mặt, tiền án chưa được xóa án tích được sử dụng để đáp ứng dấu hiệu định tội đối với hành vi trộm cắp thứ hai dưới mức định lượng. Mặt khác, sau khi cả hai hành vi mới đều đã cấu thành tội trộm cắp tài sản, số lượng hành vi phạm tội mới là căn cứ xem xét tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên” theo điểm g khoản 1 Điều 52. Không phải dùng lại tiền án cũ để tăng nặng, mà là đánh giá hai lần phạm tội mới độc lập.
Quy ước pháp lý nên làm nổi bật:
Tiền án cũ → dấu hiệu định tội cho hành vi thứ hai → không dùng lại để tăng nặng.
Hai hành vi phạm tội mới → 02 lần phạm tội → áp dụng điểm g khoản 1 Điều 52.
7.3. Hai hành vi mới tạo thành căn cứ xem xét tình tiết tăng nặng
Điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự quy định “phạm tội 02 lần trở lên” là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong trường hợp của A, cần phân biệt rõ tiền án cũ với 02 hành vi trộm cắp được thực hiện sau đó. Tiền án cũ đã được sử dụng làm căn cứ để hành vi trộm cắp thứ hai dưới mức định lượng vẫn cấu thành tội phạm theo khoản 1 Điều 173. Sau khi loại bỏ tình tiết đã làm dấu hiệu định tội, cơ sở xem xét điểm g khoản 1 Điều 52 nằm ở việc A đã thực hiện hai hành vi phạm tội mới, trong đó mỗi hành vi đều đủ căn cứ xác định là một lần phạm tội độc lập. Vì vậy, đây không phải trường hợp lấy một tiền án để đồng thời áp dụng hai lần, mà là hai lần phạm tội mới được thực hiện sau tiền án. Khi đ
✅Phần 8. Bảng phân biệt: Tái phạm và phạm tội 02 lần trở lên
Trong trường hợp người phạm tội có tiền án chưa được xóa án tích nhưng sau đó thực hiện 02 hành vi trộm cắp, cần tách riêng hai vấn đề: điều kiện xác định tái phạm và số lần phạm tội mới để xem xét tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên”. Bảng dưới đây giúp phân biệt hai trường hợp:
| Tiêu chí | Tái phạm | Phạm tội 02 lần trở lên |
|---|---|---|
| Căn cứ pháp lý | Khoản 1 Điều 53 BLHS; xem xét mối quan hệ giữa bản án trước và hành vi phạm tội mới | Điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS; dựa vào số lần thực hiện tội phạm mới |
| Tiền án cũ | Là dữ kiện quan trọng để xác định người phạm tội có thuộc trường hợp tái phạm hay không | Không phải yếu tố duy nhất quyết định tình tiết này |
| 02 hành vi mới | Không đương nhiên làm phát sinh tái phạm | Có thể là căn cứ xác định “phạm tội 02 lần trở lên” nếu từng hành vi đáp ứng điều kiện cấu thành tội phạm |
| Mỗi hành vi mới có cần đủ yếu tố cấu thành? | Hành vi mới phải cấu thành tội phạm và đáp ứng các điều kiện của Điều 53 | Về nguyên tắc, phải xác định có từ 02 lần phạm tội trở lên; từng hành vi phải có căn cứ xác định là một lần phạm tội |
| Hành vi dưới định lượng | Có thể vẫn cấu thành tội nếu thuộc trường hợp khoản 1 Điều 173, chẳng hạn do điều kiện “đã bị kết án...” | Cần xem xét hành vi dưới định lượng có được cấu thành tội độc lập hay không |
| Trường hợp của A | Không thể chỉ dựa vào tiền án cũ để kết luận ngay tình tiết tái phạm | Đây là vấn đề trọng tâm vì hành vi thứ hai được định tội nhờ dấu hiệu “đã bị kết án...” |
| Dấu hiệu “đã bị kết án” | Không được mặc nhiên sử dụng đồng thời để tăng nặng nếu đã được sử dụng làm dấu hiệu định tội | Hành vi thứ hai có thể được xác định là một lần phạm tội mới nếu đủ điều kiện Điều 173 |
| Nguyên tắc tránh tính trùng | Không sử dụng một tình tiết đã là dấu hiệu định tội để tiếp tục làm tình tiết tăng nặng | Có thể áp dụng điểm g khoản 1 Điều 52 nếu tổng hợp đủ căn cứ xác định 02 lần phạm tội |
| Kết luận đối với trường hợp của A | Cần kiểm tra riêng điều kiện Điều 53 trước khi kết luận | Nếu cả 02 hành vi mới đều cấu thành tội trộm cắp, có cơ sở xem xét “phạm tội 02 lần trở lên” |
A không đương nhiên bị xác định là tái phạm chỉ vì có tiền án chưa được xóa án tích. Nếu sau tiền án, A thực hiện 02 hành vi trộm cắp và cả hai hành vi đều đủ căn cứ cấu thành tội phạm theo Điều 173 BLHS, cần xem xét tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên” theo điểm g khoản 1 Điều 52. Đồng thời, dấu hiệu “đã bị kết án” nếu đã được sử dụng để định tội đối với hành vi thứ hai thì không được tiếp tục dùng chính dấu hiệu đó làm tình tiết tăng nặng theo khoản 2 Điều 52 BLHS.
8.1. Điểm khác biệt dễ nhầm nhất
Tiền án cũ và hai hành vi phạm tội mới là hai lớp dữ kiện pháp lý hoàn toàn khác nhau. Tiền án chưa được xóa án tích là dữ kiện liên quan đến điều kiện xác định tái phạm theo Điều 53 BLHS. Trong khi đó, việc A thực hiện 02 hành vi trộm cắp sau đó lại liên quan đến số lần phạm tội mới và khả năng áp dụng tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên” theo điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS. Vì vậy, không thể chỉ nhìn vào việc A có tiền án để kết luận ngay là tái phạm. Với trường hợp hành vi thứ hai dưới định lượng nhưng được định tội nhờ dấu hiệu “đã bị kết án”, cần đặc biệt lưu ý nguyên tắc không sử dụng một dấu hiệu đã là dấu hiệu định tội làm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 52 BLHS.
8.2. Công thức nhận diện nhanh
Để phân biệt tái phạm với phạm tội 02 lần trở lên, có thể áp dụng công thức kiểm tra theo trình tự: án cũ chưa được xóa án tích → hành vi phạm tội mới thứ nhất → hành vi phạm tội mới thứ hai → xác định độc lập cấu thành tội phạm của từng hành vi → kiểm tra việc dấu hiệu “đã bị kết án” có được sử dụng để định tội hay không → xác định tình tiết tăng nặng. Nếu cả 02 hành vi mới đều cấu thành tội phạm và chưa có lần nào được dùng làm căn cứ kết án trước đó, cần xem xét “phạm tội 02 lần trở lên” theo điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS. Việc kết luận phải tách biệt với điều kiện tái phạm tại Điều 53 và tuân thủ nguyên tắc không sử dụng trùng một tình tiết theo khoản 2 Điều 52 BLHS.
✅Phần 9. Phân tích toàn bộ tình huống A theo 5 bước
9.1. Bước 1: Xác định bản án cũ
Trước hết, cần xác định A đã bị kết án về Tội trộm cắp tài sản và chưa được xóa án tích tại thời điểm thực hiện các hành vi mới. Bản án cũ là dữ kiện quan trọng để áp dụng khoản 1 Điều 173 BLHS đối với hành vi mới có giá trị tài sản dưới mức định lượng.
9.2. Bước 2: Xác định hành vi trộm cắp mới thứ nhất
Hành vi trộm cắp thứ nhất của A có giá trị tài sản đạt định lượng theo khoản 1 Điều 173 BLHS. Vì vậy, nếu đáp ứng đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm, hành vi này độc lập đủ căn cứ để truy cứu A về Tội trộm cắp tài sản. Đây được xác định là lần phạm tội thứ nhất trong chuỗi hai hành vi mới.
9.3. Bước 3: Xác định hành vi thứ hai dưới định lượng
Đối với hành vi trộm cắp thứ hai, mặc dù giá trị tài sản dưới mức định lượng thông thường, nhưng không thể chỉ dựa vào giá trị tài sản để kết luận hành vi không cấu thành tội phạm. Do A đã bị kết án về Tội trộm cắp tài sản và chưa được xóa án tích, tình tiết này có thể đáp ứng trường hợp đặc biệt được quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS, qua đó làm phát sinh căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi thứ hai.
9.4. Bước 4: Xác định vai trò của tiền án trong hành vi thứ hai
Điểm mấu chốt là phải phân biệt dấu hiệu định tội với tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Ở hành vi thứ hai, tình trạng đã bị kết án nhưng chưa được xóa án tích được sử dụng để đáp ứng điều kiện truy cứu theo khoản 1 Điều 173 BLHS. Vì vậy, không được tiếp tục sử dụng chính dấu hiệu này như một tình tiết tăng nặng khi lượng hình.
9.5. Bước 5: Xác định tình tiết tăng nặng
Sau khi xác định cả hai hành vi mới đều cấu thành Tội trộm cắp tài sản, cần xem xét mối quan hệ giữa hai lần phạm tội để áp dụng tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên” theo điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS. Trường hợp này không lấy lại tiền án cũ để tính thành lần phạm tội mới; tình tiết tăng nặng được xác định trên cơ sở hai hành vi phạm tội mới của A.
Kết luận pháp lý
Trong tình huống này, cần tách 3 lớp pháp lý:
Tiền án cũ → là căn cứ đặc biệt giúp hành vi trộm cắp thứ hai dưới định lượng có thể cấu thành tội phạm.
Hành vi trộm cắp mới thứ nhất → đủ định lượng, cấu thành Tội trộm cắp tài sản.
Hành vi trộm cắp mới thứ hai → dưới định lượng nhưng được định tội nhờ dấu hiệu “đã bị kết án, chưa được xóa án tích”.
Do đó, không sử dụng lại dấu hiệu “đã bị kết án, chưa được xóa án tích” làm tình tiết tăng nặng. Sau khi hai hành vi mới đều được xác định là Tội trộm cắp tài sản, cần xem xét tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên” theo điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS.
Góc thực tiễn: Đây là trường hợp cần phân biệt rõ “tái phạm” với “phạm tội 02 lần trở lên”. Không nên mặc nhiên lấy việc A có tiền án chưa xóa án tích để kết luận ngay là tái phạm; phải xác định vai trò của tiền án trong việc định tội đối với hành vi thứ hai, sau đó mới kiểm tra nguyên tắc không sử dụng một tình tiết đã là dấu hiệu định tội làm tình tiết tăng nặng theo khoản 2 Điều 52 BLHS.
✅Phần 10. Những trường hợp không nên áp dụng máy móc “phạm tội 02 lần trở lên”
Không phải cứ xác định có từ hai hành vi trộm cắp là đương nhiên áp dụng tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên”. Cần tách bạch giữa số lần thực hiện hành vi, số lần cấu thành tội phạm và việc một tình tiết đã được sử dụng làm dấu hiệu định tội, định khung hay chưa. Đây cũng là điểm cần đặc biệt lưu ý khi người phạm tội có tiền án chưa được xóa án tích
10.1. Một trong hai hành vi không đủ yếu tố cấu thành
Không nên chỉ dựa vào việc người phạm tội thực hiện hai lần chiếm đoạt để kết luận có tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên”. Nếu một hành vi không đủ yếu tố cấu thành Tội trộm cắp tài sản theo Điều 173 BLHS và cũng không thuộc trường hợp được điều luật quy định là căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự, thì không thể tính hành vi đó như một lần phạm tội độc lập. Vì vậy, phải xác định từng hành vi trước khi cộng số lần phạm tội.
10.2. Một hành vi đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự trước đó
Trường hợp một hành vi trộm cắp đã được xử lý bằng một bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật, việc xác định tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên” đối với hành vi mới phải được xem xét theo quy định và hướng dẫn áp dụng tương ứng. Không nên mặc nhiên cộng hành vi đã bị xét xử với hành vi mới chỉ vì cùng một tội danh. Khi đó cần phân biệt phạm tội nhiều lần với tái phạm, đồng thời xác định thời điểm thực hiện và tình trạng án tích.
10.3. Một tình tiết đã là dấu hiệu định tội hoặc định khung
Không được sử dụng một tình tiết hai lần để bất lợi cho người phạm tội. Nếu tình tiết “đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích” đã được sử dụng làm căn cứ định tội đối với hành vi trộm cắp có giá trị dưới mức định lượng theo khoản 1 Điều 173 BLHS, thì không tiếp tục sử dụng chính tình tiết đó làm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Nguyên tắc này được đặt ra tại khoản 2 Điều 52 BLHS.
10.4. Trường hợp có nhiều lần phạm tội và có án tích
Khi người phạm tội vừa có nhiều hành vi phạm tội, vừa có án tích chưa được xóa, cần phân biệt rõ “phạm tội 02 lần trở lên”, “tái phạm” và “tái phạm nguy hiểm”. Không nên đồng nhất ba khái niệm này chỉ vì người phạm tội có nhiều lần trộm cắp.
Như vậy, việc xác định “phạm tội 02 lần trở lên” trong trường hợp người phạm tội có tiền án chưa được xóa án tích phải được thực hiện theo từng hành vi và từng căn cứ pháp lý. Đặc biệt, cần kiểm tra xem tình tiết về tiền án đã được sử dụng để định tội hay chưa, từ đó tránh áp dụng đồng thời một tình tiết cho nhiều mục đích bất lợi cho bị cáo.
✅Phần 11.Câu hỏi thường gặp về trộm cắp 02 lần sau khi có tiền án chưa xóa án tích
❓ Có tiền án chưa xóa án tích rồi trộm cắp lần 2 có phải tái phạm không?
Không phải mọi trường hợp đều đương nhiên là tái phạm. Tái phạm chỉ được xác định khi người phạm tội đã bị kết án, chưa được xóa án tích và sau đó thực hiện hành vi phạm tội mới đáp ứng điều kiện tại Điều 53 BLHS. Đặc biệt, nếu tiền án trước đó được sử dụng làm dấu hiệu để định tội đối với hành vi trộm cắp dưới 2 triệu đồng theo khoản 1 Điều 173 thì không tiếp tục dùng chính tình tiết “đã bị kết án, chưa được xóa án tích” làm tình tiết tăng nặng. Với tình huống bài viết, cần tách từng hành vi để xác định tái phạm hay phạm tội 02 lần trở lên.
❓ Trộm cắp dưới 2 triệu đồng khi chưa xóa án tích có bị truy cứu không?
Có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Khoản 1 Điều 173 BLHS quy định hành vi trộm cắp tài sản dưới 2 triệu đồng vẫn có thể cấu thành tội phạm nếu người thực hiện đã bị kết án về tội trộm cắp tài sản hoặc một số tội chiếm đoạt tài sản được liệt kê và chưa được xóa án tích mà còn vi phạm. Khi đó, tình tiết về tiền án là dấu hiệu định tội của hành vi mới. Vì vậy, cần phân biệt rõ việc “chưa xóa án tích” là căn cứ để truy cứu trong trường hợp dưới định lượng với việc sử dụng nó như một tình tiết tăng nặng.
❓ Trộm cắp 02 lần có bị áp dụng điểm g khoản 1 Điều 52 không?
Có, nếu cả hai lần đều độc lập và mỗi lần đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm, đồng thời chưa lần nào bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Nghị quyết 04/2025/NQ-HĐTP xác định “phạm tội 02 lần trở lên” là trường hợp thực hiện từ hai lần phạm tội trở lên đối với một tội phạm, trong đó mỗi lần đều đủ yếu tố cấu thành và chưa có lần nào bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Do đó, không chỉ đếm số lần lấy tài sản mà phải kiểm tra điều kiện cấu thành của từng hành vi.
❓ Tiền án chưa xóa án tích có được dùng làm tình tiết tăng nặng không?
Có thể, nhưng không được sử dụng trùng với dấu hiệu định tội. Khoản 2 Điều 52 BLHS đặt ra nguyên tắc không coi các tình tiết là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt là tình tiết tăng nặng. Vì vậy, nếu tiền án chưa xóa án tích được sử dụng để làm căn cứ truy cứu hành vi trộm cắp dưới 2 triệu đồng theo khoản 1 Điều 173 thì không được tiếp tục lấy chính tình tiết đó để tăng nặng. Tuy nhiên, trong những trường hợp đủ điều kiện của Điều 53, tái phạm có thể được xem xét độc lập theo quy định về tình tiết tăng nặng.
❓ Một hành vi trộm cắp đủ định lượng, một hành vi dưới định lượng có tính là 02 lần phạm tội không?
Có thể tính là 02 lần phạm tội nếu cả hai hành vi đều độc lập và đều cấu thành tội trộm cắp tài sản. Hành vi thứ nhất đủ định lượng có thể cấu thành tội phạm theo khoản 1 Điều 173; hành vi thứ hai tuy dưới 2 triệu đồng nhưng vẫn có thể cấu thành tội phạm nếu thuộc trường hợp “đã bị kết án... chưa được xóa án tích mà còn vi phạm”. Khi đó, tình tiết tiền án được dùng làm dấu hiệu định tội cho hành vi thứ hai, không dùng trùng làm tình tiết tăng nặng; đồng thời cả hai hành vi có thể là căn cứ áp dụng “phạm tội 02 lần trở lên” theo điểm g khoản 1 Điều 52 nếu đáp ứng đầy đủ điều kiện.
✅Phần 12. KẾT LUẬN
Quay lại trường hợp của A, án cũ về tội trộm cắp tài sản của A chưa được xóa án tích là dữ kiện có ý nghĩa quyết định, nhưng không thể mặc nhiên lấy án cũ làm tình tiết tăng nặng cho mọi hành vi mới. Với hành vi trộm cắp thứ nhất, nếu tài sản đạt định lượng của khoản 1 Điều 173 thì hành vi này đủ căn cứ cấu thành tội trộm cắp tài sản độc lập. Với hành vi thứ hai, dù tài sản dưới 2 triệu đồng, A vẫn có thể bị truy cứu nếu thuộc trường hợp đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
Khi đó, tiền án cũ thực hiện chức năng là dấu hiệu định tội đối với hành vi thứ hai, nên không được tiếp tục sử dụng chính dấu hiệu này làm tình tiết tăng nặng theo khoản 2 Điều 52 BLHS. Hai hành vi mới, nếu đều độc lập và đủ yếu tố cấu thành tội phạm, được xác định là 02 lần phạm tội. Theo Nghị quyết 04/2025/NQ-HĐTP, trường hợp này có căn cứ áp dụng tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên” tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS.
Nếu bạn đang gặp tình huống tương tự, cần tách riêng án cũ, từng hành vi mới và chức năng pháp lý của tiền án trước khi kết luận là tái phạm hay phạm tội 02 lần trở lên.
☎️ Liên hệ luật sư Hotline/Telegram/Zalo: 0338 919 686 | 0969 566 766
Website: https://luatdungtrinh.vn|
Email:luatdungtrinh@gmail.com|
- Tags