Trịnh Văn Dũng
- 11/11/2023
- 1946
✅Phần I. MỞ ĐẦU
Tội cố ý gây thương tích theo Điều 134 BLHS không được xác định chỉ vì một người gây thương tích cho người khác. Cần xem xét hành vi tác động đến sức khỏe, lỗi cố ý, hậu quả, tỷ lệ tổn thương cơ thể và các tình tiết liên quan để xác định có đáp ứng điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự hay không. Ngay cả khi tỷ lệ tổn thương thấp, người thực hiện vẫn có thể bị truy cứu nếu thuộc trường hợp Điều 134 quy định.
- Tội cố ý gây thương tích theo Điều 134 BLHS được xác định khi có hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác và đáp ứng các điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự theo luật định.
- Tỷ lệ tổn thương cơ thể là căn cứ quan trọng, nhưng không phải yếu tố duy nhất để xác định trách nhiệm hình sự.
- Trường hợp tỷ lệ tổn thương dưới 11% vẫn có thể bị truy cứu nếu thuộc một trong các trường hợp mà Điều 134 quy định.
- Khi đánh giá cần xem xét đồng thời hành vi, lỗi, hậu quả, quan hệ nhân quả, kết luận giám định và các tình tiết liên quan.
- Không nên kết luận chỉ dựa vào một dữ kiện như “bị thương”, “dưới 11%”, “dùng dao” hoặc “đã bồi thường” mà phải đối chiếu toàn bộ diễn biến và chứng cứ của vụ việc.
Tội cố ý gây thương tích là hành vi cố ý xâm phạm sức khỏe của người khác bằng việc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe, khi hành vi đáp ứng các điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự và các dấu hiệu tương ứng được quy định tại Điều 134 BLHS.
✅Phần II. ĐIỀU 134 BLHS QUY ĐỊNH VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH NHƯ THẾ NÀO?
2.1. Điều 134 điều chỉnh hành vi nào?
Điều 134 Bộ luật Hình sự điều chỉnh hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác khi hành vi đáp ứng các điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự mà điều luật quy định. “Gây thương tích” có thể được hiểu là làm phát sinh tổn thương thực thể đối với cơ thể; trong khi “gây tổn hại cho sức khỏe” rộng hơn, bao gồm những trường hợp sức khỏe của nạn nhân bị ảnh hưởng do hành vi tác động của người khác.
Về bản chất, đây là tội xâm phạm sức khỏe của người khác. Người thực hiện phải có năng lực trách nhiệm hình sự và thực hiện hành vi với lỗi cố ý, tức nhận thức được tính chất của hành vi và hậu quả có thể xảy ra nhưng vẫn thực hiện.
Tuy nhiên, không phải cứ có thương tích là mặc nhiên cấu thành tội phạm theo Điều 134. Khi đánh giá dấu hiệu tội cố ý gây thương tích, cần đặt thương tích trong toàn bộ diễn biến vụ việc, đồng thời kiểm tra hành vi, lỗi, hậu quả, quan hệ nhân quả và các điều kiện mà Điều 134 Bộ luật Hình sự quy định. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là một căn cứ quan trọng, nhưng không nên tách riêng khỏi các dữ kiện pháp lý khác.
2.2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể có vai trò gì?
Tỷ lệ tổn thương cơ thể là một căn cứ quan trọng khi xem xét tội cố ý gây thương tích theo Điều 134 BLHS, bởi đây là dữ kiện giúp xác định mức độ tổn hại sức khỏe và đối chiếu với điều kiện, tình tiết được luật quy định. Tuy nhiên, tỷ lệ này phải được xác định thông qua kết luận giám định pháp y, không nên suy đoán từ vết thương nhìn thấy bên ngoài, thời gian điều trị hoặc lời trình bày của các bên.
Trong thực tiễn, cần phân biệt tỷ lệ tổn thương cơ thể với kết luận cuối cùng về trách nhiệm hình sự. Một người có tỷ lệ tổn thương nhất định không có nghĩa chỉ cần dựa vào con số đó là có thể kết luận ngay tội danh hoặc khung áp dụng. Cơ quan tiến hành tố tụng còn phải xem xét hành vi, lỗi, quan hệ nhân quả và các tình tiết cụ thể của vụ việc.
Để xác định chính xác giá trị pháp lý của tỷ lệ thương tật trong từng trường hợp, cần đối chiếu kết luận giám định và cách Điều 134 sử dụng tỷ lệ tổn thương cơ thể. Xem thêm [tỷ lệ tổn thương cơ thể trong tội cố ý gây thương tích được xác định thế nào].
2.3. Vì sao không thể chỉ nhìn vào phần trăm thương tật?
Tỷ lệ tổn thương cơ thể là căn cứ quan trọng nhưng không phải dữ kiện duy nhất để xác định trách nhiệm hình sự theo Điều 134 BLHS. Khoản 1 Điều 134 quy định trường hợp tỷ lệ tổn thương từ 11% đến 30% và cả trường hợp dưới 11% nếu đi kèm một trong các tình tiết luật định, như dùng hung khí nguy hiểm, dùng axit hoặc hóa chất nguy hiểm, có tính chất côn đồ hoặc thuộc một số nhóm nạn nhân đặc biệt.
Vì vậy, cùng một tỷ lệ tổn thương nhưng kết quả pháp lý có thể khác nhau nếu hoàn cảnh, phương thức thực hiện hoặc tình tiết của vụ án khác nhau. Khi đánh giá tội cố ý gây thương tích Điều 134 BLHS, cần đi theo chuỗi: tỷ lệ tổn thương → điều kiện định lượng → tình tiết đặc biệt → hành vi thực tế → chứng cứ. Không nên suy luận máy móc rằng tỷ lệ thấp thì chắc chắn không bị truy cứu, hoặc chỉ cần có thương tích là đủ căn cứ kết luận tội phạm.
"Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;
b) Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm;
c) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;
d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình;
đ) Có tổ chức;
e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
g) Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp[43] giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;
h) Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê;
i) Có tính chất côn đồ;
k) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:
a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30%;
c) Phạm tội 02 lần trở lên;
d) Tái phạm nguy hiểm;
đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên, nếu không thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 4 Điều này;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;
c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;
d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 14 năm:
a) Làm chết người;
b) Gây thương tích làm biến dạng vùng mặt của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;
d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;
đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.
5. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Làm chết 02 người trở lên;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.
6. Người nào chuẩn bị vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm, a-xít nguy hiểm, hóa chất nguy hiểm hoặc thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm nhằm gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm."
✅Phần III. DẤU HIỆU TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH CẦN ĐƯỢC KIỂM TRA
3.1. Hành vi khách quan: có hành vi tác động gây thương tích
Trong thực tiễn, hành vi khách quan của tội cố ý gây thương tích cần được xác định từ cách người thực hiện tác động đến cơ thể người khác và hậu quả thực tế phát sinh. Hành vi có thể là đánh, đấm, đá, dùng tay chân hoặc sử dụng vật, công cụ, phương tiện tác động trực tiếp đến cơ thể nạn nhân. Không nhất thiết phải có một phương thức cố định; vấn đề quan trọng là hành vi đó có thực sự gây thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe của người khác hay không.
Khi đánh giá, không nên chỉ căn cứ vào lời khai của một bên. Cơ quan tiến hành tố tụng cần đối chiếu diễn biến xô xát, vị trí và cách thức tác động, vật chứng, camera, lời khai của những người liên quan, hồ sơ điều trị và kết luận giám định để xác định hành vi thực tế.
Đặc biệt, cần phân biệt giữa việc có xảy ra va chạm và việc hành vi đó trực tiếp gây ra thương tích được xác định trong hồ sơ. Đây là cơ sở quan trọng để đánh giá tiếp lỗi cố ý, hậu quả và quan hệ nhân quả trước khi xem xét các điều kiện truy cứu theo Điều 134 BLHS.
3.2. Lỗi cố ý được xác định thế nào?
Trong tội cố ý gây thương tích, không thể chỉ dựa vào việc người thực hiện đã đánh, đấm hoặc dùng vật tác động vào người khác để kết luận có lỗi cố ý. Cần làm rõ tại thời điểm thực hiện hành vi, người đó nhận thức được hành vi có khả năng gây tổn hại đến sức khỏe nhưng vẫn thực hiện, đồng thời mong muốn hậu quả xảy ra hoặc nhận thức và chấp nhận khả năng hậu quả xảy ra.
Vì vậy, việc hai bên có xô xát không đồng nghĩa mặc nhiên với cố ý gây thương tích. Khi đánh giá lỗi, cần đặt hành vi trong toàn bộ diễn biến thực tế: nguyên nhân phát sinh xô xát, cách thức tấn công, công cụ được sử dụng, vị trí tác động trên cơ thể, cường độ và số lần tác động. Lời nói trước, trong và sau khi xảy ra vụ việc cũng có thể là dữ kiện giúp làm rõ nhận thức và ý chí của người thực hiện.
Chẳng hạn, việc một người liên tục dùng vật cứng đánh vào vùng trọng yếu khác với một va chạm xảy ra trong lúc giằng co. Tuy nhiên, cũng không nên suy luận ngược rằng chỉ cần khai “không muốn gây thương tích” thì sẽ loại trừ lỗi cố ý. Ý thức chủ quan phải được đánh giá từ tổng thể hành vi và các chứng cứ khách quan, thay vì chỉ dựa vào lời khai của người bị buộc tội hoặc người bị hại.
Do đó, khi xem xét Điều 134, cần tách rõ có hành vi gây tổn hại thực tế và người thực hiện có lỗi cố ý đối với hành vi, hậu quả hay khả năng hậu quả. Đây là bước quan trọng trước khi tiếp tục đối chiếu tỷ lệ tổn thương cơ thể và các tình tiết khác mà Điều 134 quy định.
3.3. Hậu quả thương tích và quan hệ nhân quả
Trong vụ án cố ý gây thương tích, có thương tích chưa đủ để kết luận người bị buộc tội phải chịu trách nhiệm về toàn bộ tổn thương đó. Cần làm rõ mối liên hệ giữa hành vi thực tế → tổn thương phát sinh → kết luận giám định → quan hệ nhân quả. Đây là bước quan trọng để xác định thương tích được sử dụng làm căn cứ pháp lý có thực sự xuất phát từ hành vi bị cáo buộc hay không.
Thực tế cần đối chiếu hồ sơ bệnh án, thời điểm nhập viện, vị trí và đặc điểm tổn thương, kết luận giám định với diễn biến xô xát. Nếu người bị hại có bệnh lý từ trước hoặc có nguyên nhân khác có khả năng ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe, không nên mặc nhiên quy toàn bộ hậu quả cho một hành vi.
Trường hợp có nhiều người cùng tác động, cần tiếp tục làm rõ hành vi của từng người, mức độ tham gia và mối liên hệ giữa từng hành vi với thương tích cụ thể. Kết luận giám định cũng cần được đặt trong tổng thể chứng cứ, thay vì tách riêng một tỷ lệ tổn thương để suy ra trách nhiệm hình sự.
3.4. Chủ thể và năng lực trách nhiệm hình sự
Để xác định trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích theo Điều 134 BLHS, cần kiểm tra người thực hiện hành vi có đủ điều kiện về tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có năng lực trách nhiệm hình sự tại thời điểm thực hiện hành vi hay không. Tuổi phải được xác định theo thời điểm hành vi phạm tội xảy ra, không phải thời điểm vụ án được điều tra hoặc xét xử. Với người chưa thành niên, ngoài việc xác định tuổi còn phải áp dụng các quy định riêng về trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi. Vì vậy, không nên chỉ căn cứ vào việc một người đã đủ 18 tuổi ở thời điểm hiện tại để kết luận trách nhiệm hình sự đối với hành vi xảy ra trước đó.
3.5. Bảng checklist dấu hiệu
Trong thực tế, việc xác định dấu hiệu tội cố ý gây thương tích cần đặt các dữ kiện trong cùng một hồ sơ, thay vì kết luận từ riêng tỷ lệ thương tật hoặc lời khai của một bên. Có thể rà soát theo checklist sau:
| Dấu hiệu cần kiểm tra | Câu hỏi thực tế |
|---|---|
| Hành vi | Ai đã thực hiện hành vi tác động gây thương tích? |
| Lỗi | Người đó có nhận thức và cố ý thực hiện hành vi không? |
| Hậu quả | Có phát sinh thương tích hoặc tổn hại sức khỏe thực tế không? |
| Giám định | Tỷ lệ tổn thương cơ thể được xác định là bao nhiêu? |
| Quan hệ nhân quả | Thương tích có phải do hành vi bị cáo buộc gây ra không? |
| Tình tiết | Hành vi có thuộc trường hợp đặc biệt được Điều 134 quy định không? |
Lưu ý: Checklist chỉ là bước rà soát ban đầu. Để kết luận có bị truy cứu hình sự về Điều 134 hay không, cần đối chiếu đồng thời hành vi thực tế, lỗi, hậu quả, kết luận giám định, quan hệ nhân quả và các tình tiết pháp lý liên quan.
✅Phần IV. KHI NÀO CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH BỊ TRUY CỨU HÌNH SỰ?
4.1. Không phải mọi hành vi gây thương tích đều cấu thành tội phạm
Không phải cứ có người bị thương là người gây ra thương tích đương nhiên bị truy cứu về tội cố ý gây thương tích theo Điều 134 BLHS. Điều kiện đầu tiên cần xác định là người thực hiện có hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hay không. Sau đó phải đối chiếu hậu quả thực tế, tỷ lệ tổn thương cơ thể và các điều kiện mà Điều 134 đặt ra để xác định trách nhiệm hình sự.
Về nguyên tắc, việc đánh giá phải được thực hiện trên toàn bộ các dấu hiệu của hành vi, không dựa vào riêng kết quả thương tích. Cần làm rõ người thực hiện đã làm gì, lỗi được thể hiện ra sao, thương tích có phải là hậu quả do hành vi đó gây ra hay không và kết luận giám định xác định mức độ tổn thương thế nào.
Đặc biệt, tỷ lệ tổn thương cơ thể không phải lúc nào cũng là điều kiện duy nhất để truy cứu. Trường hợp tỷ lệ dưới ngưỡng thông thường, vẫn phải kiểm tra các tình tiết đặc biệt mà Điều 134 quy định. Ngược lại, có thương tích nhưng hành vi, lỗi hoặc các điều kiện luật định không đáp ứng thì không thể chỉ từ hậu quả đó mà kết luận đã đủ căn cứ truy cứu hình sự.
Vì vậy, khi xem xét một vụ việc, cần lần lượt kiểm tra: hành vi → lỗi cố ý → hậu quả và quan hệ nhân quả → tỷ lệ tổn thương cơ thể → các điều kiện, tình tiết theo Điều 134. Chỉ khi các dữ kiện này được đối chiếu đầy đủ mới có cơ sở xác định trách nhiệm hình sự.
4.2. Trường hợp tỷ lệ tổn thương cơ thể dưới 11%
Tỷ lệ tổn thương cơ thể dưới 11% không đồng nghĩa trong mọi trường hợp người gây thương tích đều không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Khi đánh giá theo Điều 134 BLHS, không nên chỉ nhìn vào con số phần trăm thương tật mà cần kiểm tra thêm các tình tiết của hành vi và điều kiện mà điều luật quy định. Vì vậy, cùng là tỷ lệ tổn thương dưới 11% nhưng cách xử lý có thể khác nhau tùy diễn biến vụ việc, phương thức thực hiện và các dữ kiện pháp lý liên quan.
Trong thực tiễn, việc xác định có đủ căn cứ truy cứu hay không cần đối chiếu kết luận giám định, hành vi thực tế, công cụ sử dụng, cách thức gây thương tích và các tình tiết liên quan. Không nên suy luận máy móc rằng “dưới 11% là không phạm tội”, cũng không nên chỉ dựa vào kết quả giám định để kết luận trách nhiệm hình sự.
Nếu cần xác định cụ thể những trường hợp thương tích dưới 11% vẫn có thể dẫn đến trách nhiệm hình sự, xem [cố ý gây thương tích dưới 11% có bị truy cứu hình sự không].
4.3. Trường hợp tỷ lệ từ 11% trở lên
Tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% trở lên là căn cứ định lượng quan trọng khi xem xét trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích theo Điều 134 BLHS. Tuy nhiên, không nên tách riêng con số này khỏi toàn bộ tình tiết của vụ việc để kết luận máy móc. Cần đối chiếu kết luận giám định, cách thức gây thương tích, lỗi của người thực hiện và các tình tiết khác mà Điều 134 quy định. Đặc biệt, các ngưỡng tỷ lệ khác nhau có thể dẫn đến cách đánh giá pháp lý khác nhau tùy trường hợp.
Vì vậy, khi hồ sơ thể hiện tỷ lệ từ 11% trở lên, cần xác định chính xác mức tỷ lệ, kết luận giám định và tình tiết đi kèm trước khi xác định trách nhiệm hình sự hoặc khung áp dụng. Nếu cần phân tích riêng từng ngưỡng, có thể xem [cố ý gây thương tích từ 11% đến 30%], [cố ý gây thương tích từ 31% đến 60%] và [cố ý gây thương tích từ 61% trở lên].
4.4. Các trường hợp đặc biệt có thể làm phát sinh trách nhiệm hình sự
Ngoài tỷ lệ tổn thương cơ thể, Điều 134 BLHS còn quy định một số trường hợp đặc biệt có thể làm phát sinh trách nhiệm hình sự khi hành vi gây thương tích đáp ứng điều kiện luật định. Chẳng hạn, vụ việc có thể liên quan đến việc dùng hung khí nguy hiểm, thực hiện hành vi có tính chất côn đồ, gây thương tích cho người thuộc nhóm tuổi được pháp luật bảo vệ đặc biệt hoặc gây thương tích cho nhiều người. Ngoài ra, còn phải kiểm tra các tình tiết khác được Điều 134 quy định cụ thể.
Điểm cần lưu ý là không thể chỉ dựa vào tên gọi của công cụ, số người bị thương hoặc hoàn cảnh xô xát để kết luận ngay. Mỗi tình tiết phải được đối chiếu với hành vi thực tế, hậu quả và chứng cứ trong hồ sơ. Các trường hợp này cần được phân tích riêng để xác định có thực sự đáp ứng điều kiện của Điều 134 hay không.
✅Phần V. CÁC TÌNH TIẾT CỦA ĐIỀU 134 CẦN ĐỐI CHIẾU THẾ NÀO?
5.1. Hung khí nguy hiểm
Khi xem xét tình tiết dùng hung khí nguy hiểm trong vụ cố ý gây thương tích, không nên chỉ căn cứ vào tên gọi của vật được sử dụng. Cần xác định cụ thể công cụ hoặc vật mà người thực hiện đã sử dụng, đặc điểm của vật, khả năng gây nguy hiểm và cách thức sử dụng trong thực tế. Cùng một vật nhưng cách sử dụng khác nhau có thể dẫn đến cách đánh giá khác nhau. Vì vậy, việc có sử dụng dao, gậy, vật cứng hoặc công cụ khác không đồng nghĩa mặc nhiên đã đủ căn cứ áp dụng tình tiết này. Cần đối chiếu vật chứng, hình ảnh, lời khai và diễn biến vụ việc trước khi kết luận.
Trường hợp cần xác định riêng việc sử dụng hung khí có đáp ứng tình tiết định khung của Điều 134 hay không, xem [cố ý gây thương tích bằng hung khí nguy hiểm có bị xử lý theo khoản 2 Điều 134 không].
5.2. Tính chất côn đồ
“Tính chất côn đồ” không nên được suy luận máy móc chỉ từ việc người phạm tội có hành vi đánh, đấm hoặc gây thương tích. Khi đối chiếu Điều 134, cần xem xét nguyên nhân và hoàn cảnh xảy ra vụ việc, thái độ của người thực hiện, cách thức tấn công, mức độ hung hãn, cùng diễn biến trước, trong và sau hành vi. Chẳng hạn, cần làm rõ ai khởi xướng xung đột, nguyên nhân dẫn đến việc tấn công, cách thức sử dụng công cụ và mức độ chủ động của người thực hiện. Vì vậy, việc đánh giá phải dựa trên toàn bộ diễn biến vụ việc và chứng cứ liên quan.
Việc đánh giá [cố ý gây thương tích có tính chất côn đồ] phải dựa trên toàn bộ diễn biến vụ việc, không chỉ căn cứ vào việc có xảy ra đánh nhau.
5.3. Người dưới 16 tuổi
Khi người bị hại dưới 16 tuổi, đây là dữ kiện cần được kiểm tra riêng khi đối chiếu Điều 134. Tuổi phải được xác định tại thời điểm hành vi gây thương tích xảy ra, không phải tại thời điểm điều tra, truy tố hoặc xét xử. Việc xác định tuổi cần dựa trên giấy tờ hộ tịch và tài liệu nhân thân có giá trị chứng minh; không thể suy đoán chỉ từ ngoại hình hoặc một giấy tờ chưa đủ cơ sở xác thực. Vì vậy, khi đánh giá tội cố ý gây thương tích Điều 134 BLHS, cần kiểm tra chính xác tuổi của người bị hại cùng các tình tiết khác của vụ việc.
Nếu người bị hại thuộc nhóm tuổi đặc biệt, cần kiểm tra riêng [cố ý gây thương tích đối với người dưới 16 tuổi bị xử lý thế nào].
5.4. Nhiều người bị hại
Trường hợp một vụ việc có nhiều người bị thương, không nên chỉ dựa vào tổng số người để kết luận tình tiết định khung. Cần xác định cụ thể số người bị tác động, hành vi đối với từng người, mức độ thương tích của từng người và mối quan hệ giữa hành vi với hậu quả. Các tài liệu như hồ sơ giám định, bệnh án, lời khai, camera hoặc vật chứng có thể cần được đối chiếu để làm rõ diễn biến thực tế.
Trường hợp có nhiều người bị thương, cần phân tích riêng [cố ý gây thương tích cho nhiều người được xác định thế nào].
5.5. Axit/hóa chất nguy hiểm
Việc sử dụng axit hoặc hóa chất nguy hiểm khi gây thương tích cần được xem xét dựa trên chính phương tiện được sử dụng, tính chất nguy hiểm và hậu quả thực tế đối với sức khỏe người bị hại. Không nên chỉ căn cứ vào tên gọi của chất hoặc lời khai một phía. Khi cần xác định loại chất, mức độ nguy hiểm và cơ chế gây tổn thương, cần đối chiếu vật chứng, tài liệu thu giữ và kết luận giám định. Xem thêm [cố ý gây thương tích bằng axit hoặc hóa chất nguy hiểm được xác định thế nào
5.6. Tái phạm nguy hiểm
Không thể đồng nhất việc đã từng có tiền án với tái phạm nguy hiểm. Để xác định tình tiết này trong vụ án cố ý gây thương tích, cần đối chiếu điều kiện của Điều 53 BLHS với bản án trước, loại tội đã bị kết án, hình phạt, tình trạng án tích và thời điểm thực hiện hành vi mới. Việc đánh giá phải dựa trên hồ sơ cụ thể, không suy luận chỉ từ thông tin người đó “đã từng bị xử lý hình sự”. Xem thêm [tái phạm nguy hiểm trong tội cố ý gây thương tích được xác định thế nào].
✅Phần VI. PHÂN BIỆT CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH VỚI MỘT SỐ TỘI DANH GẦN
6.1. Điều 134 và tội giết người
Cố ý gây thương tích theo Điều 134 BLHS và tội giết người theo Điều 123 BLHS đều có thể xuất hiện trong những vụ việc người thực hiện dùng bạo lực gây hậu quả nghiêm trọng. Tuy nhiên, điểm cần phân biệt không chỉ nằm ở việc nạn nhân bị thương hay tử vong, mà phải xem xét khách thể bị xâm phạm, diễn biến hành vi và đặc biệt là ý thức chủ quan của người thực hiện đối với hậu quả.
| Tiêu chí | Điều 134 | Điều 123 |
|---|---|---|
| Khách thể | Sức khỏe của người khác | Tính mạng của người khác |
| Hậu quả | Gây thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe | Tước đoạt tính mạng |
| Lỗi đối với hậu quả | Cần đánh giá người thực hiện có cố ý gây thương tích, tổn hại sức khỏe hay không | Cần xác định ý thức hướng đến việc tước đoạt tính mạng |
| Đánh giá | Dựa trên toàn bộ diễn biến vụ việc | Dựa trên toàn bộ diễn biến vụ việc |
Không thể chỉ căn cứ vào việc nạn nhân chết hay sống để kết luận tội danh. Trường hợp hành vi gây thương tích dẫn đến chết người, cần phân tích riêng ý thức chủ quan, cách thức tấn công, vị trí tác động, công cụ sử dụng và các tình tiết khác của vụ án.
Xem thêm [cố ý gây thương tích dẫn đến chết người khác gì với giết người] để phân tích sâu hơn ranh giới giữa Điều 134 và Điều 123.
6.2. Điều 134 và Điều 135
Điểm cần phân biệt giữa Điều 134 và Điều 135 BLHS nằm ở hoàn cảnh và trạng thái tinh thần khi hành vi gây thương tích xảy ra. Nếu người thực hiện hành vi trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân, thì không nên chỉ căn cứ vào tỷ lệ thương tích để xác định theo Điều 134. Cần làm rõ nguyên nhân dẫn đến xung đột, diễn biến ngay trước thời điểm gây thương tích và mức độ kích động tại thời điểm thực hiện hành vi. Vì vậy, khi hồ sơ có tình tiết này, cần xem xét riêng cố ý gây thương tích trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh để phân biệt đúng Điều 134 với Điều 135.
Trường hợp vụ việc có yếu tố kích động mạnh, cần đối chiếu riêng cố ý gây thương tích trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh với các dấu hiệu của Điều 134.
6.3. Điều 134 và Điều 136
Đối với trường hợp người thực hiện cho rằng mình đang tự vệ, cần xác định trước hành vi của mình có nhằm chống trả một hành vi xâm phạm đang xảy ra hay không. Nếu có căn cứ về phòng vệ chính đáng nhưng việc chống trả vượt quá giới hạn cần thiết và gây thương tích, hướng xác định tội danh có thể khác với trường hợp chủ động tấn công người khác theo Điều 134. Do đó, không thể chỉ dựa vào hậu quả thương tích để kết luận. Cần đối chiếu hành vi xâm phạm ban đầu, mức độ nguy hiểm, cách thức chống trả và diễn biến thực tế để phân biệt Điều 134 với Điều 136.
Nếu người gây thương tích cho rằng mình hành động để tự vệ, cần xem xét riêng cố ý gây thương tích do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng trước khi xác định Điều 134 có được áp dụng hay không.
✅Phần VII. BỒI THƯỜNG, RÚT YÊU CẦU VÀ KHẮC PHỤC HẬU QUẢ
7.1. Bị hại rút yêu cầu có làm vụ án chấm dứt không?
Không thể mặc nhiên cho rằng bị hại rút đơn thì vụ án đương nhiên chấm dứt. Với trường hợp thuộc khoản 1 Điều 134 BLHS, đây là nhóm tội chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện trong trường hợp luật định. Theo khoản 2 Điều 155 BLTTHS, nếu người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ, trừ trường hợp việc rút yêu cầu được xác định là do bị ép buộc, cưỡng bức.
Về thời điểm, pháp luật hiện hành không giới hạn việc rút yêu cầu chỉ trước ngày mở phiên tòa sơ thẩm như quy định trước đây. Vì vậy, cần xem xét người bị hại rút yêu cầu ở giai đoạn điều tra, truy tố, chuẩn bị xét xử hay tại phiên tòa và cơ quan nào đang giải quyết vụ án để xác định đúng hệ quả tố tụng.
7.2. Bồi thường có làm mất trách nhiệm hình sự không?
Bồi thường cho người bị hại không đồng nghĩa với việc tự động được miễn trách nhiệm hình sự. Trong vụ án cố ý gây thương tích, việc tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả có thể được xem xét khi đánh giá thái độ của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nếu đáp ứng điều kiện luật định. Tuy nhiên, cần phân biệt việc bồi thường với việc rút yêu cầu khởi tố: hai vấn đề này có căn cứ pháp lý và hệ quả khác nhau.
→ Để đánh giá cụ thể, xem [bồi thường cho người bị hại có làm thay đổi trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích không].
7.3. Khắc phục hậu quả cần chứng minh bằng gì?
Trong vụ án cố ý gây thương tích, việc đã bồi thường hoặc khắc phục hậu quả nên được chứng minh bằng tài liệu cụ thể, thay vì chỉ trình bày rằng các bên đã thỏa thuận. Tài liệu thường được đối chiếu gồm biên lai nộp tiền, chứng từ chuyển khoản, giấy nhận tiền, văn bản thỏa thuận hoặc xác nhận của bị hại. Trường hợp khắc phục một phần, cần thể hiện rõ số tiền đã thực hiện và phần còn lại. Ngoài giá trị bồi thường, hồ sơ cũng cần thể hiện mức độ khắc phục thực tế và thời điểm thực hiện. Khi đánh giá ảnh hưởng của việc khắc phục hậu quả đến trách nhiệm hình sự hoặc hình phạt, cần đặt các tài liệu này trong toàn bộ diễn biến vụ án, không chỉ dựa vào lời khai của một bên.
Xem thêm: [Khắc phục hậu quả trong vụ án cố ý gây thương tích được xem xét thế nào?]
✅Phần VIII. CHECKLIST HỒ SƠ: CẦN KIỂM TRA GÌ TRƯỚC KHI ĐÁNH GIÁ ĐIỀU 134?
Trong thực tiễn giải quyết vụ việc về tội cố ý gây thương tích theo Điều 134 BLHS, không nên chỉ nhìn vào kết luận giám định hoặc lời khai của một bên để xác định trách nhiệm hình sự. Cần đặt các dữ kiện về hành vi, lỗi, hậu quả, tỷ lệ tổn thương cơ thể, hoàn cảnh xảy ra vụ việc và các tình tiết liên quan trong cùng một hệ thống chứng cứ. Có trường hợp tỷ lệ thương tích đã rõ nhưng vẫn phải làm rõ ai là người gây ra, dùng công cụ gì, tác động như thế nào và thương tích có thực sự phát sinh từ hành vi bị cáo buộc hay không.
| Dữ kiện cần kiểm tra | Ý nghĩa pháp lý | Tài liệu cần đối chiếu |
|---|---|---|
| Thời gian, địa điểm | Xác định diễn biến và bối cảnh vụ việc | Biên bản, camera, dữ liệu điện tử |
| Người thực hiện | Xác định đúng chủ thể gây thương tích | Lời khai, nhận dạng, camera |
| Công cụ sử dụng | Xem xét đặc điểm, phương thức gây thương tích và tình tiết liên quan | Vật chứng, ảnh, video |
| Cách thức tấn công | Làm rõ hành vi và lỗi của người thực hiện | Lời khai, video, dữ liệu điện tử |
| Vị trí tác động | Đánh giá cơ chế hình thành thương tích và diễn biến hành vi | Hồ sơ bệnh án, hồ sơ cấp cứu |
| Tỷ lệ tổn thương cơ thể | Căn cứ quan trọng để đối chiếu Điều 134 | Kết luận giám định |
| Tuổi người bị hại | Kiểm tra tình tiết liên quan đến độ tuổi | CCCD, giấy khai sinh, tài liệu hộ tịch |
| Số người bị hại | Xem xét tình tiết định khung nếu có | Hồ sơ vụ án, tài liệu giám định |
| Nguyên nhân xô xát | Làm rõ bối cảnh, diễn biến và lỗi của các bên | Tin nhắn, camera, lời khai |
| Tiền án, án tích | Kiểm tra điều kiện liên quan đến tái phạm, tái phạm nguy hiểm | Bản án trước, tài liệu về án tích |
Không nên tách từng chứng cứ để kết luận
Một điểm thường bị bỏ qua là kết luận giám định thương tích không tự mình giải quyết toàn bộ vấn đề trách nhiệm hình sự. Kết luận về tỷ lệ tổn thương cơ thể cho biết mức độ tổn hại sức khỏe theo chuyên môn, nhưng vẫn cần đối chiếu với chứng cứ về hành vi gây thương tích và quan hệ nhân quả. Tương tự, việc một người có sử dụng dao hoặc vật khác cũng chưa đủ để tự động kết luận tình tiết định khung nếu chưa làm rõ vật được sử dụng, cách thức sử dụng và toàn bộ diễn biến vụ việc.
Trong hồ sơ thực tế, nên kiểm tra theo chuỗi: ai thực hiện → thực hiện hành vi gì → trong hoàn cảnh nào → sử dụng công cụ gì → tác động vào đâu → hậu quả thực tế ra sao → kết luận giám định xác định thế nào → có tình tiết đặc biệt nào của Điều 134 hay không. Cách kiểm tra này giúp tránh việc chỉ lấy một dữ kiện như “dưới 11%”, “dùng dao” hoặc “đã bồi thường” để suy ra ngay tội danh hay khung trách nhiệm.
Checklist thực tiễn trước khi đánh giá
Nếu vụ việc đã được cơ quan tiến hành tố tụng tiếp nhận, có thể rà soát tối thiểu:
- Kết luận giám định và hồ sơ y tế của người bị thương;
- Camera, video, hình ảnh ghi lại diễn biến trước và trong khi xảy ra xô xát;
- Vật chứng và tài liệu mô tả công cụ được sử dụng;
- Lời khai của người bị hại, người bị buộc tội và người làm chứng;
- Tin nhắn, cuộc gọi, dữ liệu điện tử nếu có tranh chấp về nguyên nhân hoặc diễn biến;
- Tài liệu về tuổi, nhân thân, tiền án và án tích khi có tình tiết liên quan.
Trong thực tiễn, khó khăn không nằm ở việc đọc riêng Điều 134 mà ở việc đối chiếu quy định với diễn biến thực tế và chứng cứ. Một kết luận có căn cứ phải đặt tỷ lệ tổn thương, cách thức gây thương tích, công cụ sử dụng, lỗi, quan hệ nhân quả và các tình tiết liên quan vào cùng một hồ sơ, thay vì tách từng dữ kiện để suy luận riêng lẻ.
✅Phần IX. Câu hỏi thường gặp?
❓ Cố ý gây thương tích bao nhiêu phần trăm thì bị truy cứu hình sự?
Không có một tỷ lệ duy nhất áp dụng cho mọi trường hợp. Điều 134 BLHS sử dụng tỷ lệ tổn thương cơ thể như một căn cứ quan trọng, nhưng còn quy định những trường hợp có thể bị truy cứu khi tỷ lệ dưới ngưỡng thông thường nếu kèm tình tiết luật định. Vì vậy, cần đối chiếu tỷ lệ giám định và toàn bộ tình tiết của vụ việc.
❓ Gây thương tích dưới 11% có bị đi tù không?
Có thể. Tỷ lệ tổn thương cơ thể dưới 11% không đồng nghĩa người thực hiện chắc chắn không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Điều 134 BLHS quy định một số trường hợp đặc biệt mà dù tỷ lệ tổn thương dưới 11%, hành vi vẫn có thể cấu thành tội phạm nếu đáp ứng điều kiện tương ứng. Cần kiểm tra chính xác cách thức gây thương tích và tình tiết của vụ việc.
❓ Có thương tích nhưng không cố ý thì có phạm Điều 134 không?
Không thể chỉ dựa vào việc nạn nhân có thương tích để kết luận phạm tội theo Điều 134. Một yếu tố quan trọng là phải xác định lỗi cố ý của người thực hiện đối với hành vi gây thương tích hoặc tổn hại sức khỏe. Nếu hậu quả xảy ra do vô ý hoặc nguyên nhân khác, cần xem xét quy định pháp luật tương ứng thay vì mặc nhiên áp dụng Điều 134.
❓ Đánh nhau gây thương tích có mặc nhiên là tội cố ý gây thương tích không?
Không. Việc xảy ra đánh nhau và có người bị thương chưa đủ để tự động kết luận có tội theo Điều 134. Cơ quan tiến hành tố tụng phải xem xét hành vi cụ thể, lỗi, hậu quả, tỷ lệ tổn thương cơ thể, quan hệ nhân quả và các điều kiện luật định. Đặc biệt, cần làm rõ diễn biến xô xát và vai trò của từng người tham gia.
❓ Bồi thường cho bị hại có được miễn trách nhiệm hình sự không?
Không phải cứ bồi thường đầy đủ cho bị hại thì người gây thương tích đương nhiên được miễn trách nhiệm hình sự. Việc bồi thường, khắc phục hậu quả có thể được xem xét khi đánh giá trách nhiệm và các tình tiết giảm nhẹ theo quy định. Hệ quả cụ thể còn phụ thuộc tính chất vụ án, tình tiết phạm tội và các điều kiện pháp luật liên quan.
→ Xem thêm: [Bồi thường cho người bị hại có làm thay đổi trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích không?]
❓ Bị hại rút đơn thì người gây thương tích có bị xử lý nữa không?
Có thể vẫn bị xử lý, tùy căn cứ khởi tố và trường hợp cụ thể. Việc bị hại rút yêu cầu không phải lúc nào cũng làm vụ án chấm dứt. Cần xác định vụ án có thuộc trường hợp khởi tố theo yêu cầu của bị hại, việc rút yêu cầu có tự nguyện hay không và thời điểm rút yêu cầu trong quá trình tố tụng.
→ Xem thêm: [Cố ý gây thương tích có được miễn trách nhiệm hình sự khi bị hại rút đơn không?]
❓ Dùng dao gây thương tích có phải luôn là hung khí nguy hiểm không?
Không nên mặc nhiên kết luận cứ dùng dao gây thương tích là đương nhiên có tình tiết “dùng hung khí nguy hiểm”. Cần xem xét đặc điểm của con dao, cách thức sử dụng, vị trí tác động, khả năng gây nguy hiểm và diễn biến thực tế của hành vi. Việc xác định tình tiết này phải dựa trên chứng cứ và hoàn cảnh cụ thể của vụ án.
→ Xem thêm: [Cố ý gây thương tích bằng hung khí nguy hiểm có bị xử lý theo khoản 2 Điều 134 không?]
✅Phần X. KẾT LUẬN
Không phải mọi hành vi gây thương tích đều tự động cấu thành tội cố ý gây thương tích theo Điều 134 BLHS. Việc xác định trách nhiệm hình sự phải dựa trên toàn bộ diễn biến vụ việc và các dấu hiệu pháp lý có liên quan, thay vì chỉ nhìn vào việc người bị hại có thương tích.
Trong thực tế, cần đánh giá đồng thời hành vi, lỗi, hậu quả, tỷ lệ tổn thương cơ thể, quan hệ nhân quả và các tình tiết được Điều 134 quy định. Một dữ kiện riêng lẻ như “dưới 11%”, “dùng dao”, “đã bồi thường” hoặc “bị hại rút đơn” cũng không đủ để tự đưa ra kết luận về tội danh hoặc trách nhiệm hình sự. Mỗi yếu tố phải được đặt trong đúng bối cảnh và đối chiếu với chứng cứ của vụ việc.
Khi vụ việc đã phát sinh, người liên quan nên rà soát hồ sơ trước khi xác định hướng xử lý. Đặc biệt cần kiểm tra kết luận giám định, hồ sơ bệnh án, camera, vật chứng, lời khai, tin nhắn và tài liệu về quá trình bồi thường. Nếu đã có giấy triệu tập, quyết định khởi tố hoặc kết luận điều tra, việc luật sư trực tiếp nghiên cứu hồ sơ sẽ giúp xác định đúng vấn đề pháp lý cần tranh luận, đánh giá chứng cứ và làm rõ những tài liệu còn cần bổ sung.
Nếu đã nhận giấy mời hoặc giấy triệu tập làm việc, nên chuẩn bị trước các tài liệu liên quan đến diễn biến vụ việc thay vì chỉ dựa vào trí nhớ khi trình bày. Cần rà soát thời điểm xảy ra xô xát, người tham gia, công cụ được sử dụng, vị trí tác động, thương tích, nguyên nhân phát sinh và những chứng cứ có thể kiểm chứng. Luật sư có thể nghiên cứu hồ sơ, hướng dẫn chuẩn bị nội dung làm việc và xác định những điểm cần được làm rõ trong quá trình giải quyết vụ việc.
☎️ Liên hệ luật sư Hotline/Telegram/Zalo: 0338 919 686 | 0969 566 766
Website: https://luatdungtrinh.vn|
Email:luatdungtrinh@gmail.com|
- Tags