Trịnh Văn Dũng
- 24/08/2026
- 26
Theo Điều 256a BLHS, 04 thời hạn được xác định theo thời điểm phát sinh và kết thúc của từng trường hợp cụ thể, không mặc nhiên tính từ ngày 01/7/2025. Vì vậy, nếu sau ngày này người sử dụng trái phép chất ma túy vẫn đang trong một trong 04 thời hạn luật định thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
04 thời hạn theo Điều 256a BLHS là các khoảng thời gian pháp lý liên quan đến cai nghiện, điều trị thay thế, quản lý sau cai và quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy, làm căn cứ xác định trách nhiệm hình sự.
✅Phần 1. Mở đầu
Điều 256a Bộ luật Hình sự được bổ sung và áp dụng từ ngày 01/7/2025, quy định Tội sử dụng trái phép chất ma túy đối với người thuộc một trong 04 trường hợp nhất định về cai nghiện, điều trị nghiện bằng thuốc thay thế hoặc quản lý sau cai, quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy. Vướng mắc phát sinh khi một trong các thời hạn này đã bắt đầu trước ngày 01/7/2025 nhưng vẫn còn tiếp tục sau thời điểm Điều 256a có hiệu lực.
Vậy 04 thời hạn Điều 256a tính từ khi nào? Có phải mọi thời hạn đều phải được xác định bắt đầu từ ngày 01/7/2025 hay được tính theo thời điểm phát sinh thực tế của từng trường hợp? Đây là vấn đề cần phân biệt rõ giữa thời điểm điều luật có hiệu lực và thời điểm bắt đầu, kết thúc của thời hạn luật định.
Về nguyên tắc áp dụng được nêu trong nội dung giải đáp vướng mắc, thời điểm xác định 04 thời hạn Điều 256a không mặc nhiên bắt đầu từ ngày 01/7/2025. Nếu sau ngày này, người sử dụng trái phép chất ma túy vẫn đang trong một trong 04 thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 256a thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự, không phụ thuộc thời hạn đó bắt đầu trước hay sau ngày 01/7/2025.
✅Phần 2. Điều 256a BLHS có hiệu lực từ ngày nào?
2.1 Điều 256a được bổ sung vào Bộ luật Hình sự từ 01/7/2025
Điều 256a về Tội sử dụng trái phép chất ma túy được bổ sung vào Bộ luật Hình sự năm 2015 thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2025. Theo quy định về hiệu lực thi hành, Luật này có hiệu lực từ ngày 01/7/2025. Đây cũng là thời điểm quy định tại Điều 256a bắt đầu được áp dụng. Vì vậy, khi xem xét hành vi sử dụng trái phép chất ma túy xảy ra từ ngày 01/7/2025, cần đối chiếu với các điều kiện và thời hạn luật định tại khoản 1 Điều 256a.
2.2.Nội dung khoản 1 Điều 256a về 04 thời hạn
Khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự được bổ sung tại Luật số 86/2025/QH15 quy định người sử dụng trái phép chất ma túy bị xử lý hình sự khi thuộc một trong 04 trường hợp gắn với các thời hạn pháp lý cụ thể. Các thời hạn này không có cùng điểm bắt đầu mà phụ thuộc vào tình trạng cai nghiện, điều trị hoặc quản lý của từng trường hợp.
| Trường hợp | Thời hạn cần xác định |
|---|---|
| Điểm a | Đang trong thời hạn cai nghiện ma túy hoặc điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế |
| Điểm b | Đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy |
| Điểm c | Đang trong thời hạn 02 năm kể từ ngày hết thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy và đồng thời trong thời hạn quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy |
| Điểm d | Đang trong thời hạn 02 năm kể từ khi tự ý chấm dứt cai nghiện ma túy tự nguyện hoặc điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế |
Điểm cần lưu ý là khoản 1 Điều 256a không quy định 04 thời hạn đều bắt đầu từ ngày 01/7/2025. Điều luật xác định từng thời hạn dựa trên sự kiện pháp lý tương ứng như thời điểm cai nghiện, quản lý sau cai hoặc tự ý chấm dứt cai nghiện. Đây là cơ sở để xem xét vấn đề thời điểm xác định 04 thời hạn Điều 256a khi các thời hạn đã bắt đầu trước ngày điều luật có hiệu lực
2.3. “Có hiệu lực từ 01/7/2025” có đồng nghĩa mọi thời hạn phải bắt đầu sau ngày này?
Không. Ngày Điều 256a có hiệu lực và thời điểm bắt đầu của các thời hạn được quy định tại khoản 1 Điều 256a là hai vấn đề khác nhau. Việc điều luật có hiệu lực từ 01/7/2025 không đồng nghĩa mọi thời hạn đều phải được tính lại hoặc bắt đầu từ ngày này. Thời hạn được xác định theo sự kiện pháp lý tương ứng của từng trường hợp. Đây là cơ sở để xác định đúng phạm vi áp dụng Điều 256a và tránh cách hiểu làm lùi thời điểm hiệu lực của quy định mới.
Điều 256a BLHS là quy định mới cần được đặt trong tổng thể các quy định về Tội sử dụng trái phép chất ma túy theo BLHS 2025 trước khi đi sâu vào vấn đề xác định thời hạn và mốc 01/7/2025.
✅Phần 3. 04 thời hạn tại Điều 256a được xác định từ khi nào?
3.1 Thời hạn cai nghiện hoặc điều trị thay thế được xác định thế nào?
Theo khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự, việc xác định thời hạn phải căn cứ vào sự kiện pháp lý làm phát sinh từng thời hạn cụ thể, thay vì mặc nhiên lấy ngày 01/7/2025 làm mốc bắt đầu. Do đó, khi xem xét trách nhiệm hình sự, cần đối chiếu thời điểm thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy với thời hạn tương ứng mà người đó đang thuộc.
Thời hạn cai nghiện hoặc điều trị thay thế được xác định thế nào?
Đối với trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 256a, thời hạn được xác định trên cơ sở thời gian người đó đang cai nghiện ma túy hoặc điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế. Về nguyên tắc, cần xác định rõ thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc của quá trình này để làm căn cứ đối chiếu với thời điểm xảy ra hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Cụm từ “đang trong thời hạn” cho thấy yếu tố thời gian phải được xem xét tại chính thời điểm hành vi sử dụng xảy ra. Nếu hành vi được thực hiện sau ngày 01/7/2025 nhưng thời hạn cai nghiện hoặc điều trị thay thế đã bắt đầu từ trước và vẫn chưa kết thúc, thì không có căn cứ để mặc nhiên loại trừ thời hạn đó chỉ vì nó phát sinh trước ngày Điều 256a có hiệu lực.
Vì vậy, cách xác định thời hạn Điều 256a BLHS cần dựa vào hồ sơ, quyết định hoặc tài liệu xác lập thời gian cai nghiện, điều trị thay thế và đối chiếu chính xác với thời điểm thực hiện hành vi. Đây cũng là cơ sở quan trọng để tránh nhầm lẫn giữa mốc hiệu lực của Điều 256a (01/7/2025) và mốc bắt đầu của thời hạn cai nghiện, điều trị.
3.2. Thời hạn quản lý sau cai nghiện được xác định thế nào
Thời hạn quản lý sau cai nghiện được xác định dựa trên ngày bắt đầu quản lý và ngày kết thúc quản lý theo quyết định hoặc hồ sơ quản lý của cơ quan có thẩm quyền. Khi xem xét trách nhiệm hình sự theo Điều 256a BLHS, cần đối chiếu thời điểm thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy với thời hạn quản lý sau cai nghiện thực tế của người đó. Nếu hành vi xảy ra khi thời hạn này chưa kết thúc, người đó được xác định là đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện theo quy định của điều luật.
Đáng lưu ý, không nên mặc nhiên lấy ngày 01/7/2025 – thời điểm Điều 256a BLHS có hiệu lực – làm ngày bắt đầu thời hạn quản lý. Mốc thời gian này chỉ xác định thời điểm quy định mới bắt đầu được áp dụng; còn ngày bắt đầu và ngày hết thời hạn quản lý phải được xác định theo căn cứ pháp lý làm phát sinh việc quản lý. Vì vậy, trường hợp thời hạn quản lý bắt đầu trước 01/7/2025 nhưng vẫn còn tiếp diễn sau ngày này cần được xem xét theo thời hạn thực tế.
3.3. Trường hợp 02 năm sau quản lý sau cai có gì đặc biệt?
Trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 256a BLHS có tính chất đặc biệt vì không thể chỉ căn cứ vào việc người sử dụng trái phép chất ma túy còn trong thời hạn 02 năm kể từ ngày hết thời hạn quản lý sau cai. Quy định này đặt ra hai điều kiện về thời gian phải được xem xét đồng thời: người đó đang trong thời hạn 02 năm kể từ ngày hết thời hạn quản lý sau cai và đồng thời đang trong thời hạn quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy.
Có thể hình dung trình tự thời gian như sau:
Kết thúc quản lý sau cai → bắt đầu thời hạn 02 năm → thời gian quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy → thời điểm sử dụng trái phép chất ma túy.
Do đó, không nên hiểu đơn giản rằng chỉ cần còn trong thời hạn 02 năm sau quản lý sau cai là đủ điều kiện. Nếu thiếu một trong hai yếu tố về thời hạn nêu trên thì chưa đáp ứng đầy đủ điều kiện được đặt ra tại điểm c khoản 1 Điều 256a. Đây cũng là vấn đề cần đặc biệt lưu ý khi xác định thời điểm xác định 04 thời hạn theo Điều 256a, nhất là đối với những trường hợp thời hạn được xác lập từ trước ngày 01/7/2025 nhưng vẫn còn hiệu lực sau ngày này.
Về thực tiễn, cần đối chiếu chính xác ngày hết thời hạn quản lý sau cai, khoảng thời gian 02 năm và thời hạn quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy để xác định tình trạng pháp lý tại thời điểm thực hiện hành vi sử dụng. Việc xác định sai một trong các mốc này có thể dẫn đến đánh giá không chính xác về điều kiện xử lý hình sự.
3.4. Trường hợp tự ý chấm dứt cai nghiện/điều trị thay thế
Đối với trường hợp người sử dụng trái phép chất ma túy tự ý chấm dứt cai nghiện ma túy tự nguyện hoặc điều trị nghiện bằng thuốc thay thế, thời hạn được xác định dựa trên ngày tự ý chấm dứt. Theo khoản 1 Điều 256a BLHS, nếu trong thời hạn 02 năm kể từ thời điểm này người đó sử dụng trái phép chất ma túy thì thuộc trường hợp cần xem xét trách nhiệm hình sự theo điều luật. Vì vậy, thời hạn Điều 256a trước ngày 01/7/2025 vẫn cần được xác định theo mốc thực tế phát sinh, thay vì mặc nhiên tính lại từ ngày 01/7/2025.
3.5. Có nên lấy 01/7/2025 làm “mốc 0” để tính lại 04 thời hạn?
Có nên lấy 01/7/2025 làm “mốc 0” để tính lại 04 thời hạn?
Không. Ngày 01/7/2025 là thời điểm Điều 256a BLHS bắt đầu có hiệu lực, nhưng không phải là mốc để tính lại 04 thời hạn theo khoản 1 Điều này. Các thời hạn phải được xác định dựa trên sự kiện pháp lý làm phát sinh thời hạn tương ứng, chẳng hạn thời điểm bắt đầu cai nghiện, quản lý sau cai hoặc tự ý chấm dứt cai nghiện. Cách hiểu này bảo đảm quy định mới được áp dụng đúng từ ngày có hiệu lực, thay vì vô tình làm thu hẹp thời gian áp dụng của Điều 256a.
01/7/2025 là mốc hiệu lực của Điều 256a, không phải mặc nhiên là mốc bắt đầu lại 04 thời hạn.
Hành vi của người trực tiếp sử dụng trái phép chất ma túy cũng cần được phân biệt với hành vi tổ chức cho người khác sử dụng. Đối với trường hợp sau, cần xem xét quy định về Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo Điều 255 BLHS.
✅Phần 4. Vì sao 04 thời hạn có thể được xác định từ trước 01/7/2025?
4.1.Cách hiểu “chỉ tính thời hạn từ 01/7/2025” dẫn đến hệ quả gì?
Nếu cho rằng 04 thời hạn theo Điều 256a BLHS chỉ được xác định từ ngày 01/7/2025, thì sẽ phát sinh bất cập trong trường hợp thời hạn pháp lý đã bắt đầu trước ngày điều luật có hiệu lực nhưng vẫn còn tiếp diễn sau thời điểm này.
Ví dụ, một người bắt đầu cai nghiện trước ngày 01/7/2025 và đến tháng 8/2025 vẫn đang trong thời hạn cai nghiện nhưng có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Nếu chỉ tính thời hạn từ ngày 01/7/2025, khoảng thời gian cai nghiện trước đó sẽ bị loại khỏi việc xác định thời hạn; đồng thời, người đang thực tế trong thời hạn cai nghiện tại ngày 01/7/2025 lại bị xem như chưa có thời hạn theo Điều 256a. Cách hiểu này có thể dẫn đến việc hiệu lực thực tế của Điều 256a BLHS bị lùi sau ngày 01/7/2025, không phù hợp với mục đích áp dụng quy định mới.
Do đó, cần phân biệt ngày Điều 256a có hiệu lực với thời điểm bắt đầu của từng thời hạn pháp lý.
4.2.Hiệu lực của điều luật và thời điểm bắt đầu của thời hạn là hai vấn đề khác nhau
Cần phân biệt rõ ngày Điều 256a BLHS có hiệu lực với thời điểm bắt đầu của từng thời hạn được quy định tại khoản 1 Điều 256a. Ngày 01/7/2025 là mốc quy định mới bắt đầu được áp dụng, nhưng không phải là mốc để tính lại hoặc “reset” các thời hạn đã phát sinh trước đó.
Cụ thể, mốc thứ nhất là ngày 01/7/2025 – thời điểm Điều 256a BLHS có hiệu lực thi hành. Mốc thứ hai là sự kiện pháp lý làm phát sinh thời hạn tương ứng, chẳng hạn ngày bắt đầu cai nghiện, điều trị nghiện bằng thuốc thay thế, thời điểm quản lý sau cai hoặc ngày tự ý chấm dứt cai nghiện, điều trị. Mốc thứ ba là thời điểm thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Khi đó, cần đối chiếu để xác định người thực hiện hành vi có đang trong thời hạn luật định hay không.
Có thể khái quát:
Sự kiện pháp lý → thời hạn phát sinh → 01/7/2025 (Điều 256a có hiệu lực) → hành vi sử dụng → đối chiếu điều kiện của Điều 256a.
Do đó, việc một thời hạn bắt đầu trước 01/7/2025 không đồng nghĩa thời hạn đó không được xem xét khi áp dụng Điều 256a sau ngày luật có hiệu lực.
4.3. Nguyên tắc áp dụng trong trường hợp thời hạn bắt đầu trước 01/7/2025
Điểm cần phân biệt là ngày 01/7/2025 là thời điểm Điều 256a BLHS có hiệu lực, không phải mốc bắt đầu lại hoặc “đặt lại” 04 thời hạn được quy định tại khoản 1 Điều này. Theo Công văn số 250/TANDTC-PC năm 2026, nếu chỉ xác định 04 thời hạn từ sau ngày 01/7/2025 thì sẽ dẫn đến việc lùi hiệu lực thực tế của Điều 256a. Vì vậy, trường hợp người sử dụng trái phép chất ma túy sau ngày 01/7/2025 mà vẫn đang trong thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 256a thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự, không phụ thuộc thời hạn đó bắt đầu trước hay sau ngày 01/7/2025.
Có thể hiểu theo nguyên tắc: thời điểm phát sinh 04 thời hạn được xác định theo sự kiện pháp lý tương ứng của từng trường hợp, còn ngày 01/7/2025 xác định thời điểm quy định hình sự mới bắt đầu được áp dụng. Cách hiểu này cũng được hướng dẫn cụ thể đối với từng trường hợp: quyết định cai nghiện, quản lý sau cai, quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy hoặc việc tự ý chấm dứt cai nghiện có thể phát sinh trước hoặc sau ngày 01/7/2025.
✅Phần 5. Ví dụ xác định 04 thời hạn trước và sau ngày 01/7/2025
5.1. Ví dụ 1 – Thời hạn cai nghiện bắt đầu trước 01/7/2025
Tình huống: Một người bắt đầu thực hiện cai nghiện ma túy trước ngày 01/7/2025 và đến sau thời điểm này vẫn đang trong thời hạn cai nghiện. Sau đó, người này có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy trước khi thời hạn cai nghiện kết thúc.
Bắt đầu cai nghiện → 01/7/2025 (Điều 256a có hiệu lực) → sử dụng trái phép chất ma túy → kết thúc thời hạn cai nghiện
Phân tích: Việc Điều 256a BLHS có hiệu lực từ ngày 01/7/2025 không đồng nghĩa với việc thời hạn cai nghiện phải được tính lại từ ngày này. Cần phân biệt thời điểm điều luật bắt đầu có hiệu lực với thời điểm bắt đầu của thời hạn cai nghiện. Nếu tại thời điểm người đó thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, thời hạn cai nghiện đã phát sinh trước đó nhưng vẫn còn hiệu lực, thì tình trạng “đang trong thời hạn cai nghiện” vẫn được xác định theo thời gian thực tế của quá trình cai nghiện.
Kết luận: Không lấy 01/7/2025 làm ngày bắt đầu lại thời hạn cai nghiện. Việc thời hạn bắt đầu trước ngày 01/7/2025 không loại trừ khả năng áp dụng Điều 256a nếu hành vi sử dụng xảy ra sau ngày điều luật có hiệu lực và các điều kiện luật định khác được đáp ứng.
5.2. Ví dụ 2 – Quản lý sau cai bắt đầu trước 01/7/2025
Tình huống: Một người đã hoàn thành cai nghiện và được đưa vào diện quản lý sau cai nghiện trước ngày 01/7/2025. Đến ngày 01/7/2025, thời hạn quản lý sau cai vẫn chưa kết thúc. Sau đó, người này tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy trong khi thời hạn quản lý vẫn còn.
Bắt đầu quản lý sau cai → 01/7/2025 (Điều 256a có hiệu lực) → sử dụng trái phép chất ma túy → hết thời hạn quản lý sau cai
Phân tích: Điểm cần xác định không phải là thời hạn quản lý sau cai bắt đầu trước hay sau ngày 01/7/2025, mà là tại thời điểm thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, thời hạn quản lý sau cai có còn hay không. Nếu thời hạn này vẫn đang tồn tại sau ngày 01/7/2025, thì việc thời hạn được xác lập từ trước ngày 01/7/2025 không làm mất khả năng áp dụng Điều 256a. Cách hiểu này phù hợp với mục đích bảo đảm hiệu lực thực tế của quy định mới từ ngày luật có hiệu lực, thay vì coi 01/7/2025 là mốc bắt đầu lại mọi thời hạn.
Kết luận: Trường hợp người đó sử dụng trái phép chất ma túy sau 01/7/2025 và vẫn đang trong thời hạn quản lý sau cai, cần đối chiếu Điều 256a để xem xét trách nhiệm hình sự; không phụ thuộc việc thời hạn quản lý sau cai bắt đầu trước hay sau ngày 01/7/2025.
5.3. Ví dụ 3 – Hết quản lý sau cai trước 01/7/2025 nhưng còn thời hạn 02 năm
Giả sử một người đã hết thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy trước ngày 01/7/2025, nhưng tại thời điểm sau ngày này vẫn đang trong thời hạn 02 năm kể từ ngày hết thời hạn quản lý sau cai nghiện và đồng thời còn trong thời hạn quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy. Sau đó, người này tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy.
Trường hợp này cần đối chiếu điểm c khoản 1 Điều 256a BLHS. Quy định này yêu cầu đồng thời có hai yếu tố: đang trong thời hạn 02 năm kể từ ngày hết thời hạn quản lý sau cai nghiện và đang trong thời hạn quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy.
Đáng chú ý, việc thời hạn 02 năm bắt đầu trước ngày 01/7/2025 không làm mất khả năng áp dụng Điều 256a. Công văn 250/TANDTC-PC năm 2026 hướng dẫn rằng nếu người sử dụng trái phép chất ma túy vẫn đang trong một trong 04 thời hạn tại khoản 1 Điều 256a thì việc truy cứu trách nhiệm hình sự không phụ thuộc thời hạn đó bắt đầu trước hay sau ngày 01/7/2025.
Hết quản lý sau cai → phát sinh thời hạn 02 năm → 01/7/2025 → tiếp tục sử dụng ma túy → đối chiếu thời hạn quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy.
Lưu ý: Không được hiểu rằng cứ hết quản lý sau cai trước 01/7/2025 là đương nhiên bị truy cứu. Tại thời điểm sử dụng, phải kiểm tra đầy đủ cả hai điều kiện của điểm c khoản 1 Điều 256a.
5.4. Ví dụ 4 – Tự ý chấm dứt cai nghiện trước 01/7/2025
Tình huống: Một người tự ý chấm dứt việc cai nghiện ma túy vào thời điểm trước ngày 01/7/2025. Đến ngày 01/7/2025, người này vẫn chưa hết thời hạn 02 năm kể từ ngày tự ý chấm dứt cai nghiện. Sau đó, người này tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy trong khoảng thời gian 02 năm nói trên.
Cách xác định: Mốc tính 02 năm được xác định từ ngày tự ý chấm dứt cai nghiện, không phải tính lại từ ngày 01/7/2025. Do đó, nếu tại thời điểm sử dụng trái phép chất ma túy, thời hạn 02 năm vẫn còn thì người này thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 256a BLHS.
Kết luận: Việc thời hạn 02 năm bắt đầu trước ngày 01/7/2025 không loại trừ việc áp dụng Điều 256a nếu hành vi sử dụng xảy ra sau ngày luật có hiệu lực và các điều kiện luật định khác được đáp ứng.
5.5. Ví dụ 5 – Thời hạn đã hết trước 01/7/2025
Giả sử một người đã hoàn thành thời gian cai nghiện và 04 thời hạn theo khoản 1 Điều 256a BLHS đều đã kết thúc trước ngày 01/7/2025. Sau đó, người này sử dụng trái phép chất ma túy khi không còn thuộc bất kỳ thời hạn luật định nào. Trường hợp này không thể chỉ căn cứ vào việc người đó từng cai nghiện trước đây để xác định trách nhiệm hình sự theo Điều 256a. Điểm cần xác định là tại thời điểm thực hiện hành vi sử dụng, thời hạn tương ứng còn đang tồn tại hay đã kết thúc.
Như vậy, việc một thời hạn bắt đầu trước 01/7/2025 không đồng nghĩa đương nhiên bị truy cứu; phải đối chiếu chính xác thời điểm bắt đầu, thời điểm kết thúc và thời điểm thực hiện hành vi.
✅Phần 6. Sử dụng trái phép chất ma túy trong thời hạn bắt đầu trước 01/7/2025 có bị truy cứu?
6.1.Trường hợp thời hạn vẫn còn sau 01/7/2025
Việc một trong 04 thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự bắt đầu trước ngày 01/7/2025 không làm mất khả năng áp dụng Điều 256a nếu thời hạn đó vẫn còn tại thời điểm người đó thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Theo nội dung giải đáp vướng mắc được công bố, nếu người sử dụng trái phép chất ma túy sau ngày 01/7/2025 và tại thời điểm thực hiện hành vi vẫn đang trong một trong 04 thời hạn luật định thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội sử dụng trái phép chất ma túy; việc thời hạn đó được xác định từ trước hay sau ngày 01/7/2025 không phải là căn cứ loại trừ trách nhiệm hình sự.
Cách hiểu này phù hợp với việc phân biệt thời điểm Điều 256a có hiệu lực với thời điểm bắt đầu của từng thời hạn. Ngày 01/7/2025 là mốc quy định mới bắt đầu được áp dụng, không phải mốc để tính lại hoặc “đặt lại” toàn bộ 04 thời hạn. Do đó, khi đánh giá một trường hợp cụ thể, cần xác định chính xác thời điểm bắt đầu, thời điểm kết thúc của thời hạn tương ứng và thời điểm xảy ra hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
6.2. Trường hợp thời hạn đã kết thúc trước ngày 01/7/2025
Ngược lại, không phải mọi thời hạn được xác định từ trước ngày 01/7/2025 đều tiếp tục được sử dụng làm căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 256a BLHS. Trường hợp thời hạn cai nghiện, quản lý sau cai, thời hạn 02 năm hoặc thời hạn tương ứng tại khoản 1 Điều 256a đã kết thúc trước ngày 01/7/2025, thì tại thời điểm Điều 256a có hiệu lực, người đó không còn thuộc thời hạn luật định. Do đó, không thể lấy một thời hạn đã chấm dứt trước ngày 01/7/2025 để làm căn cứ xử lý đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy xảy ra sau đó.
Điểm cần phân biệt là thời hạn bắt đầu trước 01/7/2025 nhưng vẫn còn hiệu lực sau ngày này với thời hạn đã hoàn toàn kết thúc trước 01/7/2025. Chỉ trường hợp thứ nhất mới đặt ra vấn đề áp dụng Điều 256a đối với phần thời gian còn lại sau ngày luật có hiệu lực.
6.3. Cần chứng minh những mốc thời gian nào?
Để xác định chính xác người sử dụng trái phép chất ma túy có đang trong một trong các thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 256a BLHS hay không, cần làm rõ toàn bộ chuỗi mốc thời gian có liên quan, thay vì chỉ căn cứ vào thời điểm phát hiện hoặc kết quả xét nghiệm. Cụ thể, cần xác định: ngày bắt đầu và ngày kết thúc cai nghiện hoặc điều trị nghiện bằng thuốc thay thế; ngày bắt đầu và ngày kết thúc quản lý sau cai nghiện; thời gian quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy; ngày tự ý chấm dứt cai nghiện hoặc điều trị thay thế nếu thuộc trường hợp quy định tại điểm d khoản 1 Điều 256a; và ngày thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Các mốc này cần được đối chiếu với nhau và với ngày 01/7/2025, là thời điểm Điều 256a BLHS có hiệu lực, để xác định tại thời điểm thực hiện hành vi, người đó có còn nằm trong thời hạn luật định hay không. Việc xác định chính xác các mốc thời gian là cơ sở quan trọng để đánh giá điều kiện áp dụng Điều 256a.
✅Phần 7. Phân biệt “mốc hiệu lực Điều 256a” với “mốc tính thời hạn”
7.1. 01/7/2025 là mốc hiệu lực của quy định hình sự
Ngày 01/7/2025 là mốc hiệu lực của quy định bổ sung Điều 256a vào Bộ luật Hình sự, qua đó đặt ra cơ sở pháp lý để xem xét trách nhiệm hình sự đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy trong các trường hợp luật định. Tuy nhiên, cần phân biệt mốc hiệu lực với mốc thời gian làm phát sinh hoặc xác định thời hạn tại khoản 1 Điều 256a. Việc Điều 256a có hiệu lực từ 01/7/2025 không đồng nghĩa mọi thời hạn được quy định tại điều luật đều phải bắt đầu từ ngày này. Khi áp dụng pháp luật hình sự, cần xác định đúng thời điểm điều luật có hiệu lực và đối chiếu với thời hạn luật định tương ứng của từng trường hợp.
7.2. Mốc tính thời hạn phụ thuộc vào từng trường hợp
Mốc thời gian để xác định 04 trường hợp tại khoản 1 Điều 256a phụ thuộc vào sự kiện pháp lý tương ứng, chứ không mặc nhiên lấy ngày 01/7/2025 làm thời điểm bắt đầu. Cụ thể, đối với người đang trong thời hạn cai nghiện ma túy hoặc điều trị nghiện bằng thuốc thay thế, cần xác định theo thời gian cai nghiện hoặc điều trị thực tế theo quy định. Đối với trường hợp đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy, căn cứ vào thời gian quản lý sau cai. Với trường hợp tại điểm c, phải đồng thời xem xét thời hạn 02 năm kể từ ngày hết thời hạn quản lý sau cai và thời hạn quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy. Đối với điểm d, thời hạn được xác định là 02 năm kể từ khi tự ý chấm dứt cai nghiện hoặc điều trị nghiện bằng thuốc thay thế.
7.3.Vì sao không nên “reset” thời hạn vào 01/7/2025?
Không nên hiểu rằng khi Điều 256a có hiệu lực, các thời hạn luật định đang tồn tại phải được “reset” và tính lại từ ngày 01/7/2025. Cách hiểu này sẽ tách rời mốc hiệu lực của điều luật khỏi sự kiện thực tế làm phát sinh từng thời hạn, đồng thời có thể dẫn đến việc một người đang trong thời hạn cai nghiện, quản lý sau cai hoặc thời hạn 02 năm theo luật tại ngày 01/7/2025 lại không được xem xét theo Điều 256a chỉ vì thời hạn bắt đầu trước ngày này. Do đó, cần phân biệt rõ mốc hiệu lực, thời điểm bắt đầu, thời hạn luật định và việc áp dụng pháp luật hình sự. 01/7/2025 là mốc xác định hiệu lực của Điều 256a, không phải mặc nhiên là mốc bắt đầu lại các thời hạn.
Cần phân biệt hành vi sử dụng trái phép chất ma túy với hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Đây là hai hành vi có bản chất pháp lý và điều luật áp dụng khác nhau; trường hợp cần tìm hiểu riêng về việc bán ma túy số lượng nhỏ có bị đi tù không, có thể tham khảo bài phân tích liên quan.
✅Phần 8. Câu hỏi thường gặp về thời hạn Điều 256a
❓ 04 thời hạn theo Điều 256a có bắt buộc phải bắt đầu sau ngày 01/7/2025?
Không. Điều 256a có hiệu lực từ ngày 01/7/2025 nhưng không quy định 04 thời hạn tại khoản 1 phải được xác định bắt đầu từ ngày này. Theo giải đáp của Tòa án nhân dân tối cao, nếu người sử dụng trái phép chất ma túy vẫn đang trong một trong 04 thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 256a thì việc truy cứu trách nhiệm hình sự không phụ thuộc vào việc các thời hạn đó bắt đầu trước hay sau ngày 01/7/2025.
❓ Người sử dụng ma túy sau ngày 01/7/2025 nhưng đang trong thời hạn bắt đầu trước đó có bị truy cứu không?
Có, nếu người đó vẫn đang trong một trong 04 thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 256a và thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy sau ngày 01/7/2025. Việc thời hạn bắt đầu trước ngày 01/7/2025 không loại trừ trách nhiệm hình sự. Theo hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao, việc xác định trách nhiệm trong trường hợp này không phụ thuộc thời hạn bắt đầu trước hay sau ngày 01/7/2025.
❓ Có phải cứ từng cai nghiện trước ngày 01/7/2025 là bị xử lý hình sự?
Không. Việc từng cai nghiện trước ngày 01/7/2025 không đồng nghĩa với việc người đó đương nhiên bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Cần xác định tại thời điểm sử dụng trái phép chất ma túy, người đó có đang trong một trong các thời hạn được quy định tại khoản 1 Điều 256a hay không. Nếu thời hạn đã kết thúc thì không thể chỉ dựa vào việc người đó từng cai nghiện để xác định trách nhiệm hình sự.
Điểm này rất quan trọng để tránh bài viết bị hiểu thành “hồi tố” mọi trường hợp cai nghiện trước 01/7/2025.
❓ Test dương tính có chứng minh thời điểm sử dụng ma túy không?
Không nên đồng nhất kết quả dương tính với việc xác định chính xác thời điểm sử dụng. Kết quả xét nghiệm có thể là một căn cứ chứng minh tình trạng sử dụng chất ma túy, nhưng việc xác định trách nhiệm theo Điều 256a còn phải đối chiếu với thời điểm hành vi sử dụng và tình trạng pháp lý của người đó trong 04 thời hạn luật định. Vì vậy, “dương tính” và “sử dụng trong thời hạn Điều 256a” là hai vấn đề cần được phân biệt.
❓ Làm thế nào xác định chính xác thời hạn theo Điều 256a?
Cần xác định sự kiện làm phát sinh thời hạn, thời điểm bắt đầu, thời điểm kết thúc và đối chiếu với ngày thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Tùy trường hợp, cần xem xét các quyết định hoặc hồ sơ liên quan đến cai nghiện, điều trị nghiện bằng thuốc thay thế, quản lý sau cai, quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy hoặc việc tự ý chấm dứt cai nghiện. Đây là cơ sở để xác định thời hạn còn hiệu lực hay đã kết thúc.
❓ Ngày 01/7/2025 có phải là ngày bắt đầu lại 04 thời hạn theo Điều 256a?
Không. Ngày 01/7/2025 là ngày Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự có hiệu lực thi hành, không phải là ngày mặc nhiên bắt đầu lại 04 thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 256a. Việc xác định thời hạn phải căn cứ vào từng trường hợp cụ thể và sự kiện pháp lý làm phát sinh thời hạn đó. Cách hiểu phải tính lại toàn bộ thời hạn từ ngày 01/7/2025 sẽ không phù hợp với hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao.
✅Phần 9. Kết luận
Điều 256a Bộ luật Hình sự được bổ sung và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2025, quy định trách nhiệm hình sự đối với người sử dụng trái phép chất ma túy trong các trường hợp luật định. Tuy nhiên, điều luật không quy định 04 thời hạn tại khoản 1 phải được bắt đầu xác định từ ngày 01/7/2025. Vì vậy, không có cơ sở để mặc nhiên lấy ngày này làm mốc tính lại toàn bộ các thời hạn.
Việc xác định thời hạn phải căn cứ vào sự kiện pháp lý làm phát sinh từng thời hạn cụ thể, như thời gian cai nghiện hoặc điều trị nghiện bằng thuốc thay thế, thời gian quản lý sau cai nghiện, thời hạn 02 năm kể từ ngày hết quản lý sau cai kết hợp với thời hạn quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy, hoặc thời hạn 02 năm kể từ khi tự ý chấm dứt cai nghiện, điều trị thay thế.
Do đó, nếu sau ngày 01/7/2025, một người sử dụng trái phép chất ma túy và tại thời điểm thực hiện hành vi vẫn đang trong một trong 04 thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 256a, thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội sử dụng trái phép chất ma túy. Việc thời hạn đó bắt đầu trước hay sau ngày 01/7/2025 không làm thay đổi nguyên tắc xác định này. Tuy nhiên, trong từng vụ việc vẫn cần xác định chính xác thời điểm sử dụng và các mốc thời gian liên quan để đối chiếu đầy đủ với điều kiện luật định.
Ngoài ra bạn có thể tìm hiểu thêm các bài viết liên quan đến Tội mua bán trái phép chất ma tuý Điều 251 BLHS hoặc tội Tội vận chuyển trái phép chất ma tuý Điều 250 BLHS
☎️ Liên hệ luật sư Hotline/Telegram/Zalo: 0338 919 686 | 0969 566 766
Website: https://luatdungtrinh.vn|
Email:luatdungtrinh@gmail.com|
- Tags