Vi phạm quy định về an toàn thực phẩm có thể bị truy cứu hình sự theo Điều 317 BLHS khi hành vi thuộc trường hợp luật định và đạt ngưỡng về giá trị thực phẩm, thu lợi bất chính hoặc hậu quả về sức khỏe, tính mạng. Việc xử lý còn phụ thuộc hành vi cụ thể, chủ thể, lỗi và chứng cứ chứng minh dấu hiệu tội phạm

✅Phần 1. Mở đầu

Không phải mọi hành vi vi phạm quy định về an toàn thực phẩm đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Điều kiện truy cứu hình sự Điều 317 phải được xác định dựa trên đúng hành vi mà người thực hiện đã thực hiện, giá trị thực phẩm hoặc khoản thu lợi bất chính, hậu quả về sức khỏe và tình trạng đã từng bị xử phạt hoặc kết án, tùy từng trường hợp. Đặc biệt, Điều 317 đã được sửa đổi bởi Luật số 86/2025/QH15, có hiệu lực từ 01/7/2025, với nhiều ngưỡng định lượng được thay đổi. Đối với hành vi xảy ra trước thời điểm này, quy định mới không có lợi cho người phạm tội tại Điều 317 không được áp dụng hồi tố. Vì vậy, muốn xác định khi nào bị khởi tố về an toàn thực phẩm, cần đối chiếu cả hành vi và thời điểm phạm tội với quy định pháp luật tương ứng.

  • Không phải mọi vi phạm an toàn thực phẩm đều bị truy cứu hình sự.
  • Điều kiện truy cứu hình sự Điều 317 phụ thuộc vào hành vi cụ thể và ngưỡng định lượng mà điều luật quy định.
  • Một số trường hợp căn cứ vào giá trị thực phẩm hoặc thu lợi bất chính.
  • Một số trường hợp căn cứ vào số người bị ngộ độc, tỷ lệ tổn thương cơ thể hoặc hậu quả chết người.
  • Hành vi đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị kết án mà chưa được xóa án tích có thể là yếu tố quan trọng trong một số trường hợp luật định.
  • Cần xác định đúng hành vi vi phạm, chủ thể, lỗi, hậu quả và mối quan hệ nhân quả trước khi kết luận có dấu hiệu tội phạm.
  • Với hành vi xảy ra trước và sau ngày 01/7/2025, cần kiểm tra quy định pháp luật áp dụng tại thời điểm thực hiện hành vi.

✅Phần 2. Khi nào vi phạm an toàn thực phẩm bị truy cứu hình sự?

Truy cứu hình sự theo Điều 317 là việc cơ quan có thẩm quyền xem xét trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi vi phạm quy định về an toàn thực phẩm khi hành vi thuộc trường hợp luật định và đáp ứng đầy đủ điều kiện, ngưỡng hình sự tương ứng.

2.1. Không phải cứ “thực phẩm bẩn” là bị khởi tố

Thực phẩm bẩn” là cách gọi phổ biến, nhưng không phải mọi vi phạm an toàn thực phẩm đều cấu thành tội phạm. Tùy tính chất, mức độ và hậu quả, hành vi có thể bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi đáp ứng các điều kiện của Điều 317 Bộ luật Hình sự. Luật An toàn thực phẩm cũng đặt ra nguyên tắc xử lý theo tính chất, mức độ vi phạm.

Điểm cần phân biệt là: vi phạm quy định an toàn thực phẩm chỉ phản ánh hành vi không tuân thủ quy định; còn xử lý hình sự đòi hỏi hành vi phải thuộc trường hợp mà Điều 317 quy định và đạt ngưỡng tương ứng. Vì vậy, không thể chỉ dựa vào kết quả kiểm nghiệm hoặc việc sản phẩm không bảo đảm an toàn để kết luận một người đã phạm tội.

2.2. Điều kiện hình sự phụ thuộc vào từng hành vi cụ thể

Không có một ngưỡng duy nhất áp dụng cho mọi trường hợp vi phạm an toàn thực phẩm. Khi xem xét trách nhiệm hình sự theo Điều 317 Bộ luật Hình sự, cần xác định chính xác hành vi đã thực hiện và đối tượng thực phẩm, chất được sử dụng hoặc lưu thông thuộc trường hợp nào mà điều luật quy định. Sau đó, cơ quan có thẩm quyền đối chiếu các yếu tố liên quan như giá trị thực phẩm, khoản thu lợi bất chính, hậu quả đối với sức khỏe, tính mạng và tình trạng đã từng bị xử phạt hoặc kết án về hành vi tương ứng hay chưa. Vì vậy, cùng là hành vi kinh doanh thực phẩm không bảo đảm an toàn nhưng nếu khác về loại hành vi, giá trị, hậu quả hoặc tiền sử vi phạm thì căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự cũng có thể khác nhau.

2.3. Khi nào cơ quan tố tụng có căn cứ khởi tố?

Việc khi nào bị khởi tố về an toàn thực phẩm không chỉ dựa vào kết quả kiểm tra cho thấy thực phẩm không bảo đảm an toàn. Cơ quan có thẩm quyền phải có căn cứ xác định vụ việc có dấu hiệu của tội phạm theo Điều 317 Bộ luật Hình sự và xem xét đầy đủ hành vi, đối tượng thực phẩm, giá trị liên quan, hậu quả cùng các tình tiết luật định. Khi có căn cứ xác định dấu hiệu tội phạm, cơ quan có thẩm quyền mới thực hiện thủ tục khởi tố theo Bộ luật Tố tụng hình sự. Tuy nhiên, khởi tố vụ án không đồng nghĩa với việc một người đã chắc chắn có tội. Trách nhiệm hình sự chỉ được xác định sau quá trình điều tra, truy tố và xét xử theo đúng trình tự pháp luật.


✅Phần 3. Các ngưỡng để truy cứu hình sự theo Điều 317 hiện nay

Không phải cứ phát hiện thực phẩm có chất cấm hoặc không bảo đảm an toàn là đương nhiên bị truy cứu hình sự. Để xác định một hành vi có thuộc Điều 317 Bộ luật Hình sự hay không, cần đối chiếu đúng loại hành vi, tình trạng của chất sử dụng, giá trị sản phẩm, thu lợi bất chính, hậu quả và tiền sử xử lý của người vi phạm. Đặc biệt, các ngưỡng này không giống nhau giữa từng hành vi.

Điều 317 hiện hành được thiết kế theo nhiều nhóm hành vi và ngưỡng định lượng khác nhau. Vì vậy, thay vì chỉ kết luận chung rằng “thực phẩm bẩn có thể bị đi tù”, cần xác định hành vi cụ thể thuộc điểm nào của khoản 1 hoặc khoản 2, sau đó mới đối chiếu giá trị sản phẩm, khoản thu lợi hoặc hậu quả tương ứng. Đây là cơ sở để phân biệt vi phạm quy định về an toàn thực phẩm với hành vi đã đủ dấu hiệu của tội phạm.

3.1 Sử dụng chất, hóa chất, phụ gia hoặc chất hỗ trợ chế biến bị cấm

Theo khoản 1 Điều 317 hiện hành, người sử dụng chất, hóa chất, kháng sinh, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, phụ gia thực phẩm hoặc chất hỗ trợ chế biến mà biết là chất cấm hoặc ngoài danh mục được phép sử dụng để sản xuất thực phẩm có thể bị truy cứu khi sản phẩm trị giá từ 10 triệu đồng đến dưới 100 triệu đồng. Trường hợp sản phẩm dưới 10 triệu đồng vẫn có thể bị xử lý hình sự nếu trước đó người thực hiện đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi thuộc Điều 317 hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

Điểm cần lưu ý là điều luật không chỉ yêu cầu chứng minh có chất cấm, mà còn đặt ra yếu tố người thực hiện “biết” đó là chất bị cấm hoặc ngoài danh mục. Vì vậy, khi đánh giá trách nhiệm hình sự phải xem xét cả chứng cứ về nhận thức, nguồn nguyên liệu, quy trình sản xuất và vai trò của từng người.

3.2. Sử dụng động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc bị tiêu hủy

Việc sử dụng động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy để chế biến, cung cấp, bán thực phẩm có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 317 BLHS nếu đáp ứng điều kiện luật định. Điểm cần làm rõ là nguồn gốc nguyên liệu và nhận thức của người thực hiện: đối với hành vi cung cấp, bán, luật yêu cầu phải biết thực phẩm có nguồn gốc từ động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc bị tiêu hủy. Với hành vi xảy ra từ ngày 01/7/2025, sản phẩm trị giá từ 10 triệu đến dưới 100 triệu đồng đã thuộc ngưỡng khoản 1; trường hợp đã bị xử phạt hành chính hoặc kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì vẫn có thể bị truy cứu dù không đạt ngưỡng giá trị nêu trên.

3.3.Sử dụng chất chưa được phép sử dụng hoặc chưa được phép lưu hành

Không nên đồng nhất chất cấm/ngoài danh mục với chất chưa được phép sử dụng hoặc chưa được phép lưu hành. Đây là những căn cứ có thể dẫn đến cách xác định khác nhau khi áp dụng Điều 317 BLHS. Khi đánh giá trách nhiệm hình sự, cần đối chiếu chính xác tính pháp lý của chất được sử dụng, mục đích sử dụng, loại thực phẩm và ngưỡng định lượng mà điều luật quy định. Vì vậy, chỉ kết luận “dùng chất không được phép” là chưa đủ để xác định một người đã phạm tội. Cơ quan tố tụng còn phải làm rõ hành vi cụ thể, giá trị thực phẩm hoặc hậu quả liên quan và các điều kiện khác của Điều 317. Đây cũng là lý do cần phân biệt rõ vi phạm quy định an toàn thực phẩm với đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự.

3.4. Nhập khẩu, cung cấp, bán thực phẩm biết có chất vi phạm

Người nhập khẩu, cung cấp hoặc bán thực phẩm có chứa chất, hóa chất hoặc chất phụ gia thuộc trường hợp bị cấm có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi biết rõ tình trạng vi phạm và hành vi đáp ứng các điều kiện định lượng hoặc điều kiện khác được quy định tại Điều 317 Bộ luật Hình sự. Khi đánh giá, cần xác định giá trị thực phẩm, khoản thu lợi bất chính và nguồn gốc, số lượng hàng hóa thực tế đã đưa ra thị trường.

Đáng chú ý, trong một số trường hợp, việc người thực hiện đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội phạm liên quan nhưng chưa được xóa án tích có thể trở thành căn cứ quan trọng để xem xét trách nhiệm hình sự. Vì vậy, không thể chỉ căn cứ vào việc phát hiện chất vi phạm mà kết luận ngay có phạm tội; cơ quan tiến hành tố tụng phải đối chiếu đầy đủ hành vi, nhận thức của người thực hiện và điều kiện cụ thể mà Điều 317 đặt ra.

3.5.Thực phẩm không bảo đảm quy chuẩn gây ngộ độc hoặc tổn hại sức khỏe

Một trường hợp đáng chú ý tại khoản 1 Điều 317 hiện hành là hành vi chế biến, cung cấp, bán thực phẩm mà biết là không bảo đảm quy chuẩn kỹ thuật, quy định về an toàn thực phẩm, nếu gây ngộ độc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của từ 05 đến 20 người, hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%. Đây là những ngưỡng định lượng quan trọng để xem xét trách nhiệm hình sự.

Tuy nhiên, không nên hiểu rằng cứ có người ngộ độc hoặc bị tổn hại sức khỏe là mặc nhiên cấu thành tội phạm. Cơ quan tiến hành tố tụng còn phải xác định hành vi cụ thể, nhận thức của người thực hiện và mối quan hệ giữa thực phẩm vi phạm với hậu quả xảy ra. Vì vậy, kết quả giám định và chứng cứ về nguồn thực phẩm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng khi đánh giá dấu hiệu của tội phạm.


✅Phần 4. Bảng kiểm tra nhanh: Trường hợp nào có thể bị truy cứu theo Điều 317?

Không phải cứ phát hiện thực phẩm không bảo đảm an toàn là người thực hiện sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Để xác định một vụ việc có dấu hiệu của tội vi phạm quy định về an toàn thực phẩm theo Điều 317 BLHS, cần đối chiếu đồng thời hành vi cụ thể, loại thực phẩm hoặc chất được sử dụng, giá trị liên quan, hậu quả xảy ra và các điều kiện khác mà điều luật quy định.

Tình huống Có thể bị truy cứu? Yếu tố cần kiểm tra
Dùng chất cấm trong sản xuất, chế biến thực phẩm Có thể Loại chất, giá trị thực phẩm, nhận thức của người thực hiện và tình trạng xử lý trước đó
Sử dụng động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc bị tiêu hủy Có thể Nguồn gốc động vật, việc người thực hiện có biết tình trạng này hay không và giá trị thực phẩm
Bán hoặc cung cấp thực phẩm có chất, nguyên liệu vi phạm quy định Có thể Người bán có biết tính chất vi phạm hay không, giá trị thực phẩm và khoản thu lợi bất chính nếu thuộc trường hợp luật định
Thực phẩm gây ngộ độc Có thể Số người bị ảnh hưởng, mức độ ảnh hưởng sức khỏe và mối quan hệ giữa thực phẩm với hậu quả
Gây tổn hại sức khỏe người tiêu dùng Có thể Tỷ lệ tổn thương cơ thể, số người bị ảnh hưởng và quan hệ nhân quả
Chỉ vi phạm về nhãn hàng hóa Chưa chắc Phải xác định hành vi có đồng thời thuộc trường hợp được quy định tại Điều 317 hay chỉ là vi phạm hành chính
Thực phẩm hết hạn nhưng chưa có dấu hiệu khác của Điều 317 Chưa chắc Hành vi cụ thể, tính chất sản phẩm, giá trị liên quan và ngưỡng trách nhiệm hình sự theo điều luật

Cách kiểm tra nhanh

Có thể hình dung việc xác định trách nhiệm hình sự theo 4 bước: (1) xác định chính xác hành vi vi phạm; (2) đối chiếu hành vi đó với trường hợp được quy định tại Điều 317; (3) kiểm tra các ngưỡng về giá trị, hậu quả, số người bị ảnh hưởng hoặc tình trạng đã bị xử lý trước đó; và (4) xác định chủ thể, nhận thức, lỗi và mối quan hệ nhân quả nếu vụ việc có hậu quả về sức khỏe.

Vì vậy, kết quả kiểm nghiệm cho thấy thực phẩm không an toàn chưa đủ để tự động kết luận có tội. Cơ quan tiến hành tố tụng còn phải chứng minh các dấu hiệu pháp lý tương ứng của Điều 317 và đánh giá toàn bộ chứng cứ của vụ việc.

4.1 5 câu hỏi phải trả lời trước khi kết luận có phạm tội

Để xác định một vụ việc có đạt ngưỡng truy cứu trách nhiệm hình sự an toàn thực phẩm hay chưa, không nên chỉ dựa vào kết quả kiểm nghiệm hoặc cách gọi chung là “thực phẩm bẩn”. Cần lần lượt kiểm tra 5 vấn đề sau:

1. Hành vi cụ thể là gì?
Xác định người thực hiện đã sản xuất, chế biến, cung cấp, bán hoặc sử dụng loại nguyên liệu, chất nào và trong hoàn cảnh nào.

2. Hành vi có thuộc trường hợp được quy định tại Điều 317 không?
Không phải mọi vi phạm an toàn thực phẩm đều nằm trong phạm vi điều chỉnh của điều luật này.

3. Đã đạt ngưỡng định lượng chưa?
Đối chiếu giá trị thực phẩm, số người bị ảnh hưởng, tỷ lệ tổn thương cơ thể hoặc tiêu chí định lượng tương ứng với từng hành vi.

4. Có hậu quả hoặc khoản thu lợi thuộc trường hợp luật định không?
Cần xác định chính xác hậu quả, giá trị hoặc khoản thu lợi có liên quan đến hành vi.

5. Người thực hiện đã từng bị xử phạt hoặc kết án về hành vi liên quan chưa?
Tình trạng xử lý trước đó có thể là yếu tố quan trọng trong một số trường hợp mà Điều 317 quy định.

Chỉ sau khi đối chiếu đầy đủ các yếu tố trên mới có cơ sở đánh giá một hành vi đã đạt ngưỡng xử lý hình sự hay vẫn thuộc phạm vi xử lý khác.


✅Phần 5. Giá trị thực phẩm, thu lợi bất chính và hậu quả khác nhau thế nào?

5.1. Giá trị thực phẩm là gì?

Trong Điều 317 BLHS, giá trị thực phẩm không chỉ có ý nghĩa về mặt kinh tế mà trong một số trường hợp còn là căn cứ định lượng để xác định trách nhiệm hình sự. Khi đánh giá một hành vi, cơ quan tiến hành tố tụng phải xác định đúng loại thực phẩm, số lượng và giá trị của phần thực phẩm liên quan, sau đó đối chiếu với ngưỡng được quy định tại điều luật. Vì vậy, không thể chỉ dựa vào nhận định chung rằng thực phẩm “bẩn” hoặc “không an toàn” để kết luận có phạm tội. Giá trị thực phẩm phải được đặt trong đúng hành vi và khoản tương ứng của Điều 317 mới có ý nghĩa trong việc xác định ngưỡng truy cứu.

5.2. Thu lợi bất chính có vai trò gì?

Thu lợi bất chính là một trong những căn cứ định lượng được sử dụng trong một số trường hợp của Điều 317 để xem xét trách nhiệm hình sự. Điểm cần phân biệt là không phải cứ có khoản tiền thu được từ việc bán thực phẩm vi phạm thì mặc nhiên đủ căn cứ truy cứu. Cơ quan tiến hành tố tụng còn phải xác định khoản lợi đó có phát sinh trực tiếp từ hành vi vi phạm và có đạt ngưỡng luật định hay không. Do cách xác định khoản thu lợi có thể ảnh hưởng đến việc định tội hoặc định khung, đây thường là vấn đề cần được kiểm tra kỹ trong hồ sơ vụ án.

Xem thêm: [Cách xác định thu lợi bất chính trong vụ án vi phạm quy định về an toàn thực phẩm] - bài này phân tích riêng phương pháp xác định, khoản được tính và chứng cứ chứng minh thu lợi bất chính.

5.3. Hậu quả sức khỏe được xác định thế nào?

Trong vụ án theo Điều 317 BLHS, hậu quả đối với sức khỏe không chỉ được xác định bằng việc có người bị ngộ độc mà phải làm rõ mức độ thiệt hại và mối quan hệ giữa thực phẩm vi phạm với hậu quả xảy ra. Cơ quan tiến hành tố tụng có thể xem xét số người bị ngộ độc, số người bị tổn hại sức khỏe và tỷ lệ tổn thương cơ thể của từng trường hợp. Nếu có người chết, cần xác định nguyên nhân tử vong và mối liên hệ với thực phẩm được cho là không bảo đảm an toàn. Đối với trường hợp tổn hại sức khỏe, kết luận giám định là căn cứ quan trọng để xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể. Tuy nhiên, kết quả giám định riêng lẻ chưa đủ để kết luận trách nhiệm hình sự nếu chưa chứng minh được thực phẩm vi phạm chính là nguyên nhân dẫn đến hậu quả. Vì vậy, việc xác định nguồn thực phẩm, quá trình sử dụng, thời điểm phát sinh triệu chứng và các chứng cứ chuyên môn liên quan có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.


✅Phần 6. Yếu tố “biết” có ý nghĩa gì khi xác định trách nhiệm hình sự?

Đây là góc chuyên sâu để vượt nội dung phổ thông.

6.1. “Biết” không đồng nghĩa với chỉ biết sản phẩm tồn tại

Trong vụ án theo Điều 317 BLHS, việc một người biết sản phẩm được sản xuất, nhập khẩu hoặc kinh doanh chưa đồng nghĩa với việc họ biết sản phẩm không bảo đảm an toàn. Cơ quan tiến hành tố tụng cần làm rõ nhận thức thực tế của người đó đối với chất được sử dụng, nguồn gốc nguyên liệu, tình trạng an toàn của thực phẩm và hành vi nhập khẩu, cung cấp hoặc bán sản phẩm. Tùy từng trường hợp, nhận thức này có thể được đánh giá từ tài liệu, quá trình quản lý và các tình tiết khách quan của vụ việc, thay vì chỉ dựa vào chức danh hoặc vị trí của người liên quan.

6.2. Chứng cứ nào có thể chứng minh người thực hiện biết?

Để xác định một người có biết về tình trạng không bảo đảm an toàn của thực phẩm hay không, cơ quan tố tụng có thể đối chiếu nhiều nguồn chứng cứ khác nhau. Chẳng hạn, hồ sơ mua nguyên liệu, trao đổi nội bộ, cảnh báo về chất lượng, kết quả kiểm nghiệm, quy trình kiểm soát và chứng từ liên quan có thể giúp làm rõ quá trình nhận thức của người thực hiện. Lời khai cũng được xem xét nhưng phải được đánh giá cùng các chứng cứ khác. Đặc biệt, cần phân biệt giữa việc biết có sản phẩmbiết sản phẩm thuộc trường hợp vi phạm được Điều 317 quy định.

6.3. Không chứng minh được yếu tố chủ quan thì xử lý thế nào?

Việc phát hiện thực phẩm vi phạm quy định an toàn không đồng nghĩa người quản lý hoặc chủ cơ sở đương nhiên phải chịu trách nhiệm hình sự. Cơ quan tiến hành tố tụng phải xác định ai là người thực hiện hành vi, người đó giữ vai trò gì và có nhận thức như thế nào đối với hành vi vi phạm. Nếu chứng cứ chưa đủ làm rõ yếu tố lỗi hoặc mối liên hệ giữa người bị xem xét và hành vi phạm tội, không thể chỉ dựa vào chức vụ, quyền quản lý hay việc đứng tên cơ sở để kết luận trách nhiệm hình sự. Việc đánh giá phải dựa trên toàn bộ chứng cứ khách quan của vụ án.


✅Phần 7. Phân biệt hành vi bị xử phạt hành chính với hành vi có dấu hiệu Điều 317

7.1. Khi vi phạm chưa đạt ngưỡng Điều 317

Khi hành vi vi phạm quy định về an toàn thực phẩm nhưng chưa thuộc trường hợp được quy định tại Điều 317 Bộ luật Hình sự và chưa đạt ngưỡng luật định, người thực hiện chưa có căn cứ để bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này. Việc sản phẩm không bảo đảm một yêu cầu về vệ sinh, chất lượng hoặc điều kiện kinh doanh không đồng nghĩa đương nhiên với việc cấu thành tội phạm. Cơ quan có thẩm quyền phải đối chiếu hành vi thực tế với từng dấu hiệu của Điều 317, đồng thời xem xét tài liệu, kết quả kiểm nghiệm và các chứng cứ liên quan. Nếu chưa đủ căn cứ xác định dấu hiệu tội phạm thì không thể chỉ dựa vào tên gọi “thực phẩm bẩn” để kết luận đã phạm tội.

7.2. Khi hành vi vừa có vi phạm quản lý vừa có dấu hiệu tội phạm

Một hành vi có thể đồng thời vi phạm các quy định về quản lý an toàn thực phẩm và có dấu hiệu của tội phạm theo Điều 317. Tuy nhiên, việc tồn tại một vi phạm hành chính không tự động dẫn đến trách nhiệm hình sự. Cơ quan tiến hành tố tụng phải xác định hành vi cụ thể, đối tượng thực phẩm, giá trị hoặc hậu quả liên quan và các điều kiện khác mà Điều 317 yêu cầu, đồng thời thu thập chứng cứ để chứng minh người thực hiện có liên quan đến hành vi phạm tội. Vì vậy, ranh giới cần xác định không phải là “có vi phạm hay không”, mà là vi phạm đó đã đáp ứng đầy đủ điều kiện để xử lý hình sự theo Điều 317 hay chưa.

7.3. Vì sao không thể chỉ dựa vào kết quả kiểm nghiệm?

Kết quả kiểm nghiệm là chứng cứ quan trọng để xác định thực phẩm có chứa chất cấm, vượt giới hạn an toàn hoặc không đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật. Tuy nhiên, kết quả này không tự động xác định một người có phạm tội theo Điều 317 BLHS. Cơ quan tiến hành tố tụng còn phải làm rõ ai là người thực hiện hoặc có trách nhiệm liên quan, người đó có biết tình trạng vi phạm hay không, giá trị thực phẩm, hậu quả thực tế và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi với hậu quả. Vì vậy, cần đánh giá kết quả kiểm nghiệm trong tổng thể các chứng cứ của vụ án, thay vì xem đây là căn cứ duy nhất để kết luận trách nhiệm hình sự.

Xem thêm: [Vi phạm an toàn thực phẩm bị xử phạt hành chính hay truy cứu hình sự?]


✅Phần 8. Thời điểm xảy ra hành vi có ảnh hưởng đến việc áp dụng Điều 317?

8.1. Điều 317 đã thay đổi từ ngày 01/7/2025

Từ ngày 01/7/2025, Luật số 86/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự có hiệu lực và thay đổi đáng kể quy định tại Điều 317 về tội vi phạm quy định về an toàn thực phẩm. Trong đó, khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 317 được sửa đổi, kéo theo sự thay đổi về các trường hợp định tội, ngưỡng định lượng và trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại.

Vì vậy, khi đánh giá điều kiện truy cứu hình sự Điều 317, không nên chỉ đối chiếu với nội dung Điều 317 đang có hiệu lực mà cần xác định chính xác hành vi xảy ra vào thời điểm nào. Đây là bước quan trọng để tránh áp dụng nhầm quy định mới cho hành vi xảy ra trước thời điểm luật sửa đổi có hiệu lực.

8.2. Hành vi trước và sau ngày 01/7/2025 có thể áp dụng khác nhau

Đối với hành vi vi phạm xảy ra từ 0 giờ 00 phút ngày 01/7/2025, các quy định sửa đổi tại Luật số 86/2025/QH15 được áp dụng để khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án. Ngược lại, với hành vi xảy ra trước 0 giờ 00 phút ngày 01/7/2025, không thể mặc nhiên lấy các ngưỡng mới của Điều 317 để xử lý.

Đáng chú ý, Điều 4 Luật số 86/2025/QH15 quy định riêng rằng những quy định không có lợi cho người phạm tội tại Điều 317 không áp dụng đối với hành vi xảy ra trước thời điểm luật có hiệu lực, kể cả trường hợp sau đó vụ việc mới được phát hiện hoặc đang trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử. Khi đó, về nguyên tắc phải áp dụng quy định hình sự tương ứng có hiệu lực trước ngày 01/7/2025 để giải quyết.

Do đó, trước khi kết luận một hành vi có đạt ngưỡng truy cứu trách nhiệm hình sự về an toàn thực phẩm hay không, cần xác định trước thời điểm thực hiện hành vi, sau đó mới đối chiếu với phiên bản Điều 317 tương ứng.


✅Phần 9. Quy trình xác định một vụ việc có dấu hiệu Điều 317

9.1. Bước 1: Xác định chính xác hành vi

Không nên chỉ kết luận sản phẩm là “thực phẩm bẩn” rồi suy ra trách nhiệm hình sự. Cần xác định cụ thể người thực hiện đã sản xuất, chế biến, bảo quản, cung cấp hoặc bán loại thực phẩm nào và sử dụng nguyên liệu, chất, phụ gia hay phương thức xử lý nào. Sau đó, đối chiếu hành vi thực tế với từng trường hợp được quy định tại Điều 317 BLHS để xác định có thuộc phạm vi điều chỉnh của tội danh hay không.

9.2. Bước 2: Xác định loại sản phẩm và giá trị/thu lợi

Sau khi xác định hành vi, cần làm rõ loại thực phẩm, số lượng và giá trị liên quan, đồng thời xác định khoản thu lợi bất chính nếu đây là tiêu chí được điều luật sử dụng đối với trường hợp cụ thể. Không áp dụng một mức ngưỡng chung cho mọi hành vi. Cơ quan tiến hành tố tụng phải đối chiếu đúng hành vi với ngưỡng định lượng tương ứng của Điều 317 tại thời điểm hành vi xảy ra.

9.3. Bước 3: Xác định hậu quả và quan hệ nhân quả

Nếu vụ việc có người bị ngộ độc hoặc tổn hại sức khỏe, cần xác định số người bị ảnh hưởng, mức độ tổn thương và nguyên nhân gây thiệt hại. Kết quả giám định có vai trò quan trọng trong việc xác định hậu quả. Tuy nhiên, chỉ có kết quả thực phẩm không bảo đảm an toàn chưa đủ để tự động quy kết hậu quả; cần làm rõ mối quan hệ nhân quả giữa hành vi của người bị xem xét và thiệt hại thực tế.

9.4. Bước 4: Xác định chủ thể, nhận thức và tiền sử vi phạm

Cuối cùng, phải xác định ai là người thực hiện hoặc có vai trò liên quan, họ có đủ điều kiện chịu trách nhiệm hình sự hay không, có nhận thức về tình trạng không bảo đảm an toàn của thực phẩm và có thuộc trường hợp đã bị xử phạt hoặc kết án theo điều luật hay không. Bước này giúp tránh việc chỉ vì là chủ cơ sở hoặc người quản lý mà mặc nhiên bị quy trách nhiệm hình sự.


✅Phần 10. Những trường hợp dễ nhầm khi áp dụng Điều 317

10.1. “Thực phẩm bẩn” có phải luôn là tội phạm?

Không. “Thực phẩm bẩn” là cách gọi phổ biến, không phải thuật ngữ để mặc nhiên xác định tội phạm. Một sản phẩm không bảo đảm an toàn có thể bị xử phạt hành chính nếu hành vi chưa thuộc trường hợp được quy định tại Điều 317 Bộ luật Hình sự. Để truy cứu hình sự, cơ quan có thẩm quyền phải đối chiếu hành vi cụ thể, giá trị hoặc hậu quả và các điều kiện luật định.

10.2 Cứ gây ngộ độc là bị xử lý theo Điều 317?

Không phải cứ có ngộ độc thực phẩm là đương nhiên bị xử lý theo Điều 317. Cơ quan tiến hành tố tụng phải xác định ngộ độc xuất phát từ hành vi nào, mức độ ảnh hưởng đến sức khỏe, số người bị ảnh hưởng và các ngưỡng định lượng mà điều luật quy định. Đồng thời, cần làm rõ mối quan hệ giữa hành vi của người bị xem xét và hậu quả thực tế xảy ra.

10.3. Cứ thu lợi từ thực phẩm vi phạm là phạm tội?

Không. Việc có thu lợi từ thực phẩm vi phạm chưa đủ để mặc nhiên kết luận một người phạm tội. Khoản thu lợi chỉ có ý nghĩa hình sự khi hành vi thuộc trường hợp được Điều 317 điều chỉnh và đạt ngưỡng tương ứng theo luật. Vì vậy, cần xác định chính xác hành vi, giá trị liên quan, khoản thu lợi và các điều kiện khác trước khi kết luận có căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự hay không.


✅Phần 11. Câu hỏi thường gặp?

❓ Vi phạm an toàn thực phẩm bao nhiêu tiền thì bị khởi tố?

Không có một mức tiền duy nhất áp dụng cho mọi hành vi. Theo Điều 317 hiện hành, một số hành vi sử dụng chất cấm hoặc ngoài danh mục có thể bị truy cứu khi sản phẩm trị giá từ 10 triệu đồng đến dưới 100 triệu đồng; một số hành vi khác có ngưỡng khác. Ngoài giá trị sản phẩm, cần xem xét hậu quả, thu lợi bất chính và tiền sử vi phạm.

❓ Bán thực phẩm bẩn có bị đi tù không?

Có thể, nhưng không phải cứ bán thực phẩm không bảo đảm an toàn là bị phạt tù. Người bán chỉ bị truy cứu khi hành vi thuộc trường hợp Điều 317 và đáp ứng điều kiện luật định, chẳng hạn biết thực phẩm không bảo đảm quy chuẩn và gây ngộ độc hoặc tổn hại sức khỏe đạt ngưỡng. Nếu chưa đủ dấu hiệu hình sự, hành vi có thể bị xử lý theo pháp luật hành chính.

❓ Không gây ngộ độc có bị truy cứu theo Điều 317 không?

Có. Ngộ độc không phải điều kiện bắt buộc trong mọi trường hợp. Điều 317 còn quy định nhiều hành vi có thể bị truy cứu dựa trên giá trị sản phẩm, thu lợi bất chính hoặc việc người thực hiện đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính, đã bị kết án về tội này nhưng chưa được xóa án tích mà còn vi phạm. Vì vậy, cần xác định đúng hành vi cụ thể.

❓ Dùng chất cấm trong thực phẩm bao nhiêu thì phạm tội?

Theo khoản 1 Điều 317 hiện hành, người sử dụng chất, hóa chất, kháng sinh, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, phụ gia hoặc chất hỗ trợ chế biến biết là bị cấm hoặc ngoài danh mục được phép sử dụng có thể bị truy cứu khi sản phẩm trị giá từ 10 triệu đồng đến dưới 100 triệu đồng. Trường hợp dưới ngưỡng vẫn có thể bị truy cứu nếu thuộc điều kiện tái vi phạm mà điều luật quy định.

❓ Đã bị phạt hành chính rồi tiếp tục vi phạm có bị khởi tố không?

Có thể. Với một số hành vi được quy định tại khoản 1 Điều 317, nếu người thực hiện đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi thuộc Điều 317 mà còn vi phạm, trách nhiệm hình sự có thể phát sinh mà không nhất thiết phải đạt mức giá trị sản phẩm thông thường. Tuy nhiên, phải xác định đúng hành vi trước đó, quyết định xử phạt và hành vi vi phạm mới.

❓ Điều 317 hiện nay còn quy định mức phạt tù đến 20 năm không?

Không. Quy định Điều 317 được sửa đổi bởi Luật 86/2025/QH15, có hiệu lực từ ngày 01/7/2025. Theo quy định mới, khoản 1 có mức phạt tù từ 02 đến 05 năm, khoản 2 từ 03 đến 07 năm; do đó không còn cấu trúc hình phạt tối đa 20 năm tù như quy định cũ. Khi viết hoặc áp dụng pháp luật, cần kiểm tra thêm thời điểm thực hiện hành vi và quy định chuyển tiếp.

Tóm tắt 30 giây: Khi nào Điều 317 được áp dụng?

Điều 317 BLHS có thể được áp dụng khi hành vi vi phạm quy định về an toàn thực phẩm thuộc đúng trường hợp luật định và đạt ngưỡng truy cứu tương ứng. Khi đánh giá một vụ việc, cần kiểm tra nhanh:

  • Hành vi: Có thuộc một trong các hành vi được Điều 317 quy định hay không?
  • Định lượng: Giá trị thực phẩm hoặc thu lợi bất chính có đạt ngưỡng luật định không?
  • Hậu quả: Có gây ngộ độc, tổn hại sức khỏe hoặc chết người theo mức luật định không?
  • Nhận thức và vai trò: Người thực hiện có biết và thực hiện hành vi thuộc trường hợp bị xử lý hình sự hay không?
  • Tiền sử vi phạm: Có thuộc trường hợp đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc đã bị kết án mà chưa được xóa án tích theo điều kiện luật định không?
  • Thời điểm: Nếu hành vi xảy ra trước ngày 01/7/2025, phải kiểm tra quy định chuyển tiếp để xác định văn bản pháp luật được áp dụng.

Kết luận nhanh: Không thể chỉ dựa vào việc thực phẩm “bẩn”, “không đạt chuẩn” hoặc có vi phạm hành chính để kết luận phạm tội. Phải đối chiếu đúng hành vi + đúng ngưỡng + đúng điều kiện của Điều 317.

✅Phần 12. Kết luận

Không phải mọi hành vi vi phạm quy định về an toàn thực phẩm đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Để xác định một vụ việc có thuộc Điều 317 Bộ luật Hình sự hay không, cần đối chiếu chính xác hành vi thực tế với trường hợp luật định, đồng thời xem xét giá trị thực phẩm, mức thu lợi bất chính, hậu quả đối với sức khỏe, tính mạng và các điều kiện liên quan đến tiền sử vi phạm. Đặc biệt, không nên chỉ dựa vào kết luận “thực phẩm bẩn” để mặc nhiên xác định có tội. Với hành vi xảy ra trước ngày 01/7/2025, cần kiểm tra thêm quy định chuyển tiếp và nguyên tắc áp dụng pháp luật hình sự theo thời điểm thực hiện hành vi. Trường hợp hồ sơ phức tạp, nên đánh giá từng chứng cứ cụ thể trước khi kết luận.

☎️ Liên hệ luật sư Hotline/Telegram/Zalo: 0338 919 686 | 0969 566 766

Website: https://luatdungtrinh.vn|

Email:luatdungtrinh@gmail.com|

  • Tags

Tin liên quan

Trình tự, thủ tục khởi tố vụ án hình sự từ A–Z theo quy định mới nhất
Khởi tố vụ án hình sự là bước đầu tiên trong tố tụng nhằm xác định có hay không dấu hiệu tội phạm. Quy trình khởi tố vụ án hình sự bao gồm tiếp nhận tin báo, xác minh và ra quyết định theo luật định. Việc hiểu rõ điều kiện khởi tố, thời hạn xử lý giúp cá nhân, doanh nghiệp bảo vệ quyền lợi hợp pháp
Người dân có quyền tố cáo cán bộ công an không?
Người dân có quyền tố cáo cán bộ công an vi phạm pháp luật không? Phân tích Điều 32 BLTTHS 2015, thẩm quyền, thời hạn, thủ tục và bảo vệ người tố cáo.
Tố cáo cán bộ công an vi phạm pháp luật ở đâu?
Hướng dẫn tố cáo cán bộ công an vi phạm pháp luật đúng thẩm quyền: gửi ở đâu, cơ quan nào giải quyết, căn cứ pháp lý và bảo vệ người tố cáo theo luật.
Tư vấn tố giác tội phạm?
Theo quy định pháp luật, công dân có thể tố giác, tố cáo tội phạm tại bất kỳ cơ quan nhà nước nào, không bị giới hạn cứng nhắc về địa điểm tiếp nhận. Các cơ quan phổ biến gồm: Cơ quan Cảnh sát điều tra; Viện kiểm sát nhân dân;Tòa án nhân dân; Công an xã, phường, thị trấn; Các cơ quan, tổ chức nhà nước khác.
Mẫu đơn tố giác tội phạm mới nhất 2026?
Cập nhật mẫu đơn tố giác, tố cáo tội phạm mới nhất 2026: đánh người, lừa đảo, trộm cắp, vu khống, công an vi phạm. Luật sư Trịnh Văn Dũng tư vấn, hỗ trợ soạn đơn đúng luật.
Trường hợp được phép tạm giữ người?
Tạm giữ người là gì? Khi nào công an được tạm giữ người, thời hạn bao lâu, quyền của người bị tạm giữ và cách xử lý khi tạm giữ trái pháp luật. Luật sư phân tích chi tiết.
Hình fanpage
tvpl
Thông tin luật sư
Đoàn luật sư
Thành phố Hà Nội

Luật sư: TRỊNH VĂN DŨNG

Điện thoại: 0969566766

Zalo: 0338919686

Liên hệ Luật sư qua: youtube
Liên hệ Luật sư qua: tiktok
Liên hệ Luật sư qua: email
Khách hàng đặt câu hỏi tư vấn