Cấu thành tội vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy theo Điều 313 BLHS được xác định dựa trên các yếu tố gồm khách thể, mặt khách quan, chủ thể và mặt chủ quan. Trong đó, cần làm rõ hành vi vi phạm quy định PCCC, hậu quả, quan hệ nhân quả, chủ thể thực hiện và lỗi để xác định đầy đủ dấu hiệu của tội phạm.

Phần 1. Mở đầu

Cấu thành tội vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy theo Điều 313 Bộ luật Hình sự không chỉ được xác định bởi việc có xảy ra cháy hoặc thiệt hại, mà phải xem xét đầy đủ các dấu hiệu pháp lý của tội phạm. Trọng tâm gồm khách thể, mặt khách quan, chủ thể và mặt chủ quan, trong đó cần làm rõ hành vi vi phạm quy định PCCC, hậu quả, quan hệ nhân quả và lỗi của người thực hiện. Nghị quyết 02/2024/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TANDTC đã hướng dẫn một số nội dung quan trọng khi áp dụng Điều 313, đặc biệt về hành vi vi phạm quy định PCCC, thiệt hại và mối quan hệ nhân quả. Vì vậy, việc đánh giá các yếu tố cấu thành Điều 313 BLHS cần được thực hiện trên cơ sở đối chiếu từng dấu hiệu với tình tiết cụ thể của vụ việc, thay vì chỉ căn cứ vào việc đã xảy ra cháy.

  • Khách thể: Quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ liên quan đến an toàn phòng cháy, chữa cháy và các lợi ích được pháp luật bảo vệ.
  • Mặt khách quan: Xác định hành vi vi phạm quy định PCCC, hậu quả và quan hệ nhân quả giữa hành vi với thiệt hại.
  • Chủ thể: Xác định người thực hiện hành vi có đủ điều kiện chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của BLHS.
  • Mặt chủ quan: Xác định lỗi của người thực hiện, trong đó cần làm rõ dạng lỗi theo từng trường hợp.
  • Điểm cốt lõi: Không phải mọi hành vi vi phạm quy định PCCC đều mặc nhiên cấu thành tội vi phạm quy định về PCCC; cần đối chiếu đầy đủ các dấu hiệu pháp lý của Điều 313 BLHS.

Phần 2. Cấu thành tội vi phạm quy định PCCC theo Điều 313 là gì?

Cấu thành tội vi phạm PCCC theo Điều 313 là tổng hợp các dấu hiệu pháp lý đặc trưng để xác định một hành vi có đủ căn cứ được coi là tội vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy hay không. Về lý luận pháp luật hình sự, cấu thành tội phạm được xem xét trên bốn yếu tố cơ bản: khách thể, mặt khách quan, chủ thể và mặt chủ quan. Việc xác định đầy đủ từng yếu tố có ý nghĩa quan trọng, bởi thiếu một dấu hiệu bắt buộc thì chưa thể kết luận hành vi đã cấu thành tội phạm.

Điều 313 Bộ luật Hình sự là căn cứ pháp lý trực tiếp để định danh tội vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy. Tuy nhiên, cần phân biệt giữa hành vi không tuân thủ quy định về PCCC và hành vi đã đủ các dấu hiệu của tội phạm. Không phải mọi trường hợp vi phạm quy định PCCC, kể cả khi có sự cố cháy, đều mặc nhiên dẫn đến kết luận có tội. Việc đánh giá phải dựa trên toàn bộ tình tiết và chứng cứ của vụ việc.

Về mặt khách quan, cần xác định người thực hiện đã vi phạm quy định PCCC nào, hành vi được thực hiện hoặc không được thực hiện ra sao, có hậu quả thuộc trường hợp luật định hay không và quan hệ nhân quả giữa hành vi với hậu quả. Đồng thời, phải xác định đúng chủ thể thực hiện hành vi và trạng thái lỗi của họ.

Theo Nghị quyết 02/2024/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, “vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy” được hiểu là hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng quy định về PCCC theo pháp luật về PCCC và pháp luật khác có liên quan. Quy định này giúp làm rõ phạm vi hành vi cần xem xét khi áp dụng Điều 313 BLHS.

Do đó, yếu tố cấu thành tội vi phạm quy định PCCC không được xác định riêng lẻ mà phải được xem xét trong một chỉnh thể gồm hành vi, hậu quả, quan hệ nhân quả, chủ thể và lỗi. Đây cũng là cơ sở để phân biệt một hành vi vi phạm quy định chuyên ngành với hành vi có dấu hiệu của tội phạm theo Điều 313 BLHS.

Cấu thành tội phạm chỉ là một bước trong việc đánh giá trách nhiệm hình sự. Để biết hành vi vi phạm quy định PCCC có thể bị xử lý như thế nào và mức hình phạt được áp dụng ra sao, xem thêm: [Vi phạm quy định phòng cháy chữa cháy bị phạt bao nhiêu năm tù?]


Phần 3. 4 yếu tố cấu thành tội vi phạm quy định PCCC


3.1. Khách thể của tội vi phạm quy định PCCC

Khi phân tích cấu thành tội vi phạm quy định về PCCC, khách thể là yếu tố đầu tiên cần xác định. Hiểu đơn giản, khách thể là những quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ và bị hành vi phạm tội xâm phạm. Đối với tội vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy quy định tại Điều 313 Bộ luật Hình sự, việc xác định khách thể phải đặt trong mối liên hệ với yêu cầu bảo đảm an toàn phòng cháy, chữa cháy và bảo vệ các lợi ích hợp pháp của con người, tổ chức, xã hội.

Trước hết, an toàn phòng cháy, chữa cháy là một nội dung cốt lõi cần được xem xét. Các quy định về PCCC đặt ra những yêu cầu nhằm phòng ngừa cháy, nổ, hạn chế nguy cơ gây thiệt hại và bảo đảm việc tổ chức chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ được thực hiện an toàn, hiệu quả. Khi chủ thể vi phạm các quy định có liên quan và hành vi đó xâm phạm đến quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ, vấn đề trách nhiệm hình sự mới được đặt ra khi các dấu hiệu cấu thành khác cũng được đáp ứng.

Bên cạnh đó, khách thể của tội phạm còn liên quan đến tính mạng, sức khỏe và tài sản của con người. Đây là những lợi ích có giá trị đặc biệt được pháp luật bảo vệ. Việc bảo đảm an toàn PCCC vì vậy không chỉ nhằm phòng ngừa cháy, nổ mà còn góp phần bảo vệ con người, tài sản và trật tự, an toàn xã hội.

Cần phân biệt khách thể với đối tượng tác động. Khách thể là quan hệ xã hội bị xâm phạm; còn đối tượng tác động là người hoặc vật cụ thể chịu sự tác động trực tiếp của hành vi. Hai khái niệm có liên quan nhưng không đồng nhất.

Vì vậy, khi đánh giá các yếu tố cấu thành Điều 313 BLHS, khách thể giúp xác định hành vi đang xâm phạm đến lợi ích, quan hệ xã hội nào được pháp luật hình sự bảo vệ. Đây là cơ sở để tiếp tục xem xét các yếu tố còn lại như mặt khách quan, chủ thể và mặt chủ quan của tội phạm.


3.2. Mặt khách quan của tội vi phạm quy định PCCC

3.2.1 Hành vi vi phạm quy định về PCCC

Hành vi vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy là dấu hiệu quan trọng khi xác định cấu thành tội vi phạm quy định PCCC theo Điều 313 Bộ luật Hình sự. Hành vi này không chỉ được hiểu là hành động trực tiếp gây ra cháy mà còn có thể là việc không thực hiện nghĩa vụ, yêu cầu an toàn PCCC mà pháp luật đặt ra đối với cá nhân, tổ chức trong từng trường hợp.

Theo Nghị quyết 02/2024/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TANDTC, “vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy” tại Điều 313 BLHS bao gồm hành vi vi phạm quy định về PCCC theo pháp luật chuyên ngành và hành vi vi phạm quy định về PCCC theo các pháp luật khác có liên quan.

Về thực tế, hành vi vi phạm có thể biểu hiện dưới nhiều dạng, chẳng hạn không thực hiện yêu cầu an toàn bắt buộc, thực hiện công việc nhưng không tuân thủ quy trình hoặc biện pháp bảo đảm an toàn, sử dụng nguồn lửa, nguồn nhiệt không đúng quy định, hoặc không áp dụng biện pháp phòng ngừa cần thiết trong phạm vi trách nhiệm của mình.

Tuy nhiên, việc xác định một hành vi có dấu hiệu tội phạm không thể chỉ dựa vào việc “có vi phạm quy định PCCC”. Đối với các trường hợp thuộc khoản 1, 2 và 3 Điều 313, Nghị quyết 02/2024/NQ-HĐTP còn yêu cầu xem xét thiệt hại xảy ra và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm với thiệt hại. Nói cách khác, cần xác định cụ thể quy định nào bị vi phạm, hành vi vi phạm là gì và hành vi đó có thực sự dẫn đến hậu quả theo quy định hay không.


3.2.2. Hậu quả của hành vi vi phạm

Hậu quả là một dấu hiệu quan trọng khi đánh giá cấu thành tội vi phạm quy định PCCC theo Điều 313 BLHS. Đối với các trường hợp quy định tại khoản 1, 2 và 3 Điều 313, việc xác định trách nhiệm hình sự gắn với thiệt hại xảy ra trên thực tế và phải thuộc trường hợp mà điều luật quy định.

Theo hướng dẫn tại Nghị quyết 02/2024/NQ-HĐTP, khi xem xét trách nhiệm hình sự về tội vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy, không chỉ cần xác định có hành vi vi phạm quy định PCCC mà còn phải làm rõ thiệt hại do hành vi đó gây ra. Hậu quả có thể liên quan đến thiệt hại về người hoặc tài sản, tùy trường hợp được pháp luật hình sự quy định.

Đặc biệt, không thể chỉ dựa vào việc đã xảy ra cháy hoặc có thiệt hại để kết luận hành vi đã cấu thành tội phạm. Cần chứng minh quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và hậu quả xảy ra. Nói cách khác, phải xác định thiệt hại là kết quả do chính hành vi vi phạm quy định PCCC gây ra.

Vì vậy, khi đánh giá dấu hiệu cấu thành, hậu quả cần được xem xét đồng thời với hành vi vi phạm, quan hệ nhân quả, chủ thể và lỗi, thay vì tách rời từng yếu tố.


3.2.3 Quan hệ nhân quả

Quan hệ nhân quả trong tội vi phạm PCCC là mối liên hệ trực tiếp giữa hành vi vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy và thiệt hại xảy ra trên thực tế. Khi xem xét trách nhiệm hình sự, không chỉ cần xác định có hành vi vi phạm mà còn phải chứng minh hành vi vi phạm gây thiệt hại và thiệt hại đó là hậu quả do chính hành vi này gây ra.

Theo hướng dẫn tại Nghị quyết 02/2024/NQ-HĐTP, thiệt hại phải là hậu quả tất yếu của hành vi vi phạm quy định về PCCC; đồng thời, hành vi vi phạm phải là nguyên nhân gây ra thiệt hại. Vì vậy, việc xác định nguyên nhân gây cháy có ý nghĩa quan trọng trong đánh giá cấu thành tội phạm, nhất là khi vụ việc có nhiều yếu tố cùng tác động.

Chẳng hạn, nếu một cơ sở không thực hiện đúng quy định an toàn PCCC nhưng đám cháy thực tế phát sinh từ một nguyên nhân hoàn toàn khác và không có căn cứ chứng minh hành vi vi phạm đã gây ra thiệt hại, thì chưa thể chỉ dựa vào việc “có vi phạm” để kết luận đầy đủ về quan hệ nhân quả. Do đó, hậu quả của hành vi vi phạm phải được xem xét cùng chứng cứ và diễn biến cụ thể của vụ việc.


3.3 Chủ thể của tội vi phạm quy định PCCC

Chủ thể của tội vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy

Chủ thể của tội vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy theo Điều 313 Bộ luật Hình sự là người thực hiện hành vi vi phạm các quy định về phòng cháy, chữa cháy và đáp ứng đầy đủ điều kiện để chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Khi đánh giá chủ thể, không chỉ xem xét chức vụ hay vị trí của một người mà cần xác định cụ thể nghĩa vụ PCCC, hành vi vi phạm và mối liên hệ của người đó với hậu quả xảy ra.

Cá nhân có đủ điều kiện chịu trách nhiệm hình sự

Trước hết, cần xác định người thực hiện hành vi có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự. Đây là điều kiện về chủ thể, được xem xét cùng với các dấu hiệu khác của cấu thành tội phạm.

Người thực hiện hành vi có thể là người được giao quản lý, vận hành hoặc thực hiện công việc có yêu cầu tuân thủ quy định an toàn về phòng cháy, chữa cháy. Tuy nhiên, không phải cứ là chủ doanh nghiệp, người quản lý hoặc chủ cơ sở thì mặc nhiên trở thành chủ thể của tội phạm.

Phải xác định nghĩa vụ và hành vi cụ thể của từng người

Trong một vụ việc, cần làm rõ người bị xem xét có nghĩa vụ pháp lý liên quan đến PCCC hay không; nghĩa vụ đó được xác lập từ đâu và người này đã thực hiện hoặc không thực hiện hành vi gì. Đồng thời, phải xem xét hành vi vi phạm có liên quan đến hậu quả xảy ra hay không.

Do đó, việc xác định chủ thể cần tập trung vào bốn vấn đề:

  1. Người đó có thực hiện hoặc không thực hiện hành vi vi phạm quy định PCCC hay không?

  2. Người đó có nghĩa vụ tuân thủ hoặc thực hiện yêu cầu an toàn PCCC hay không?

  3. Hành vi của người đó có mối liên hệ nhân quả với hậu quả được xác định hay không?

  4. Người đó có đủ điều kiện chịu trách nhiệm hình sự theo BLHS hay không?

Trường hợp vụ việc liên quan đến doanh nghiệp hoặc pháp nhân thương mại, cần phân biệt trách nhiệm của cá nhân với trách nhiệm của pháp nhân. Xem thêm: Trách nhiệm hình sự của pháp nhân khi vi phạm PCCC.


Phần 4. 4. Mặt chủ quan và lỗi trong tội vi phạm PCCC

4.1 Lỗi là gì?

Lỗi trong tội vi phạm quy định PCCC thể hiện trạng thái nhận thức và thái độ tâm lý của người thực hiện đối với hành vi vi phạm và hậu quả có thể xảy ra. Khi đánh giá lỗi, cần xem xét người đó có nhận thức được tính chất của hành vi, có khả năng thấy trước hậu quả và có khả năng ngăn ngừa hậu quả hay không. Đây là căn cứ quan trọng để xác định trách nhiệm hình sự, bởi cùng một hậu quả cháy, nổ nhưng lỗi và hoàn cảnh thực tế của từng người có thể khác nhau.

4.2.Lỗi vô ý do cẩu thả

Lỗi vô ý do cẩu thả được xác định khi người thực hiện không thấy trước hậu quả có thể xảy ra từ hành vi của mình, mặc dù trong điều kiện cụ thể họ phải thấy trước và có khả năng thấy trước hậu quả đó. Trong vụ việc liên quan đến PCCC, dạng lỗi này có thể được xem xét khi một người không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ bảo đảm an toàn, không kiểm tra hoặc bỏ qua yêu cầu cần thiết, dẫn đến hậu quả mà họ không mong muốn. Việc xác định có lỗi vô ý do cẩu thả phải dựa trên chức trách, nghĩa vụ, điều kiện thực tế và khả năng nhận thức của từng người, không chỉ căn cứ vào hậu quả đã xảy ra.

4.3.Ý nghĩa của việc xác định lỗi

Xác định đúng lỗi trong tội vi phạm quy định PCCC có ý nghĩa quan trọng khi đánh giá trách nhiệm hình sự của người thực hiện hành vi. Cơ quan tiến hành tố tụng cần làm rõ người vi phạm có nhận thức được nguy cơ, có khả năng thấy trước hậu quả và có điều kiện ngăn ngừa hậu quả hay không. Đối với lỗi vô ý, cần phân biệt vô ý do cẩu thả với vô ý vì quá tự tin, bởi cách thức nhận thức và khả năng kiểm soát hậu quả trong mỗi trường hợp không giống nhau. Việc xác định lỗi phải dựa trên hành vi thực tế, nghĩa vụ PCCC và các chứng cứ của vụ việc.


Phần 5. Dấu hiệu cấu thành tội vi phạm PCCC cần xác định trong thực tế

Khi xem xét một vụ việc có dấu hiệu của tội vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy, không nên chỉ căn cứ vào việc đã xảy ra cháy hoặc thiệt hại. Cần đối chiếu toàn bộ diễn biến vụ việc với các dấu hiệu pháp lý của Điều 313 BLHS, trong đó đặc biệt lưu ý hành vi vi phạm, hậu quả và mối quan hệ nhân quả. Việc xác định đầy đủ các yếu tố này giúp phân biệt hành vi vi phạm quy định PCCC với trường hợp đủ căn cứ xác định trách nhiệm hình sự.

5.1 Có hành vi vi phạm quy định PCCC

Trước hết, cần xác định cụ thể người bị xem xét đã vi phạm quy định nào về phòng cháy, chữa cháy, bằng hành động hay không hành động. Không phải mọi sai sót trong công tác PCCC đều mặc nhiên cấu thành tội phạm. Cơ quan có thẩm quyền phải làm rõ nghĩa vụ PCCC của người đó, quy định áp dụng tại thời điểm xảy ra vụ việc và hành vi thực tế đã thực hiện hoặc không thực hiện. Đây là cơ sở đầu tiên để đánh giá dấu hiệu cấu thành tội vi phạm PCCC theo Điều 313 BLHS.

5.2 Có hậu quả hoặc trường hợp pháp luật quy định tương ứng

Bên cạnh hành vi vi phạm, cần xác định hậu quả thực tế hoặc trường hợp mà pháp luật hình sự quy định tương ứng. Hậu quả có thể liên quan đến thiệt hại về người, tài sản hoặc những hậu quả khác theo từng trường hợp của Điều 313 BLHS. Vì vậy, việc xảy ra cháy chưa đủ để kết luận đã cấu thành tội phạm. Cần đối chiếu tính chất, mức độ thiệt hại và các tình tiết của vụ việc với yếu tố cấu thành tội vi phạm quy định PCCC mà pháp luật hình sự đặt ra.

5.3. Có quan hệ nhân quả giữa hành vi và thiệt hại

Để xác định dấu hiệu cấu thành tội vi phạm quy định PCCC, cần làm rõ mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại xảy ra. Thiệt hại phải là hậu quả do chính hành vi vi phạm gây ra, không phải chỉ xảy ra đồng thời hoặc xuất phát từ nguyên nhân độc lập khác. Trường hợp có nhiều nguyên nhân cùng tác động, cần đánh giá vai trò của từng nguyên nhân dựa trên chứng cứ cụ thể. Việc xác định đúng quan hệ nhân quả có ý nghĩa quan trọng khi đánh giá trách nhiệm hình sự của người thực hiện hành vi.

5.4 Có chủ thể và lỗi phù hợp

Ngoài hành vi và hậu quả, cần xác định chủ thể thực hiện hành vi có đủ điều kiện chịu trách nhiệm hình sự và có lỗi theo quy định hay không. Không phải mọi người có liên quan đến vụ cháy đều đương nhiên là chủ thể của tội phạm. Cơ quan có thẩm quyền cần làm rõ nghĩa vụ PCCC của từng người, hành vi cụ thể, khả năng nhận thức và khả năng kiểm soát hậu quả. Đối với tội danh này, việc xác định dạng lỗi, đặc biệt lỗi vô ý, là nội dung cần được xem xét dựa trên tình tiết thực tế và chứng cứ của vụ việc.

Checklist: 4 câu hỏi xác định dấu hiệu cấu thành tội phạm

Để đánh giá một vụ việc có dấu hiệu cấu thành tội vi phạm quy định PCCC hay không, có thể lần lượt kiểm tra 4 vấn đề:

  • Quy định PCCC nào đã bị vi phạm? Xác định nghĩa vụ, quy định cụ thể mà người thực hiện phải tuân thủ.
  • Hành vi có gây ra hậu quả thuộc trường hợp luật định không? Làm rõ thiệt hại thực tế và đối chiếu với dấu hiệu pháp lý tương ứng.
  • Hậu quả có phải do chính hành vi vi phạm gây ra không? Xác định quan hệ nhân quả, tránh đồng nhất việc xảy ra cháy với trách nhiệm của một cá nhân cụ thể.
  • Người thực hiện có đủ điều kiện về chủ thể và có lỗi không? Xem xét năng lực trách nhiệm hình sự, nghĩa vụ PCCC và dạng lỗi trong từng trường hợp.

Phần 6. Hậu quả và quan hệ nhân quả có ý nghĩa thế nào?

6.1 Không phải cứ có cháy là đủ dấu hiệu cấu thành

Chỉ riêng việc xảy ra cháy chưa đủ để khẳng định một người đã cấu thành tội vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy. Khi đánh giá trách nhiệm hình sự, cần xác định có hành vi vi phạm quy định PCCC hay không và hành vi đó có liên quan trực tiếp đến hậu quả xảy ra hay không. Một vụ cháy có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó có những trường hợp không bắt nguồn từ hành vi vi phạm của một cá nhân cụ thể. Vì vậy, việc xác định dấu hiệu cấu thành phải dựa trên tổng thể các chứng cứ về hành vi, hậu quả và mối liên hệ giữa chúng.

6.2. Phải xác định nguyên nhân và hậu quả

Trong thực tế, việc xác định nguyên nhân vụ cháy có ý nghĩa quan trọng để làm rõ trách nhiệm của người có liên quan. Cần xem xét quy định PCCC nào đã bị vi phạm, hành vi vi phạm cụ thể là gì, hậu quả thực tế phát sinh và liệu hậu quả đó có phải do chính hành vi vi phạm gây ra hay không. Trường hợp có nhiều yếu tố cùng tác động đến vụ cháy, việc đánh giá phải dựa trên chứng cứ khách quan, kết quả giám định và các tài liệu có liên quan. Đây là cơ sở để làm rõ quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại.

6.3 Khi có nhiều nguyên nhân cùng dẫn đến thiệt hại

Trong thực tế, một vụ cháy có thể xuất phát từ nhiều yếu tố cùng lúc, chẳng hạn hành vi vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy kết hợp với điều kiện vật chất, thiết bị hoặc tác động khác. Khi đó, việc xác định trách nhiệm không chỉ dừng ở việc có hành vi vi phạm mà phải làm rõ mối quan hệ nhân quả giữa hành vi đó và thiệt hại xảy ra. Theo Điều 3 Nghị quyết số 02/2024/NQ-HĐTP, đối với trường hợp thuộc khoản 1, 2 và 3 Điều 313 BLHS, hành vi vi phạm phải có quan hệ nhân quả với thiệt hại; thiệt hại phải là hậu quả tất yếu của hành vi vi phạm và hành vi vi phạm là nguyên nhân gây ra thiệt hại. Vì vậy, nếu có nhiều nguyên nhân cùng tác động, cơ quan có thẩm quyền cần đánh giá cụ thể vai trò của từng nguyên nhân và chứng cứ liên quan để xác định hành vi vi phạm có thực sự gây ra thiệt hại hay không.

Nghị quyết 02/2024/NQ-HĐTP ngày 24/5/2024 của HĐTP TAND Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Điều 313, Bộ Luật hình sự

Điều 3. Truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 313 của Bộ luật Hình sự

Người nào vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 313 của Bộ luật Hình sự khi có đủ các điều kiện sau đây:

1. Thực hiện một hoặc nhiều hành vi hướng dẫn tại Điều 2 Nghị quyết này;

2. Có thiệt hại xảy ra theo quy định tại một trong các khoản 1, 2 và 3 Điều 313 của Bộ luật Hình sự;

3. Hành vi vi phạm phải có mối quan hệ nhân quả với thiệt hại xảy ra. Thiệt hại xảy ra phải là hậu quả tất yếu của hành vi vi phạm và ngược lại hành vi vi phạm là nguyên nhân gây ra thiệt hại.

Điều 4. Truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 4 Điều 313 của Bô luật Hình sự

1. “Vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy trong trường hợp có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả quy định tại một trong các điểm a, b và c khoản 3 Điều này nếu không được ngăn chặn kịp thời” quy định tại khoản 4 Điều 313 của Bộ luật Hình sự là hành vi vi phạm hướng dẫn tại Điều 2 Nghị quyết này mà thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Chưa xảy ra cháy nhưng nếu không được ngăn chặn kịp thời thì chắc chắn sẽ cháy và dẫn đến thiệt hại quy định tại một trong các điểm a, b và c khoản 3 Điều 313 của Bộ luật Hình sự;

b) Đã xảy ra cháy và tất yếu sẽ dẫn đến hậu quả quy định tại một trong các điểm a, b và c khoản 3 Điều 313 của Bộ luật Hình sự nhưng do được ngăn chặn kịp thời nên thiệt hại dưới mức quy định tại khoản 1 Điều 313 của Bộ luật Hình sự.

2. “Ngăn chặn kịp thời” là trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện các biện pháp ngăn chặn ngay sau khi có hành vi vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy như: dập tắt đám cháy, di chuyển chất nguy hiểm về cháy ra khỏi nơi đông người, mang nguồn lửa, nguồn nhiệt ra khỏi nơi có quy định cấm,... để không xảy ra cháy hoặc đã xảy ra cháy nhưng thiệt hại dưới mức quy định tại khoản 1 Điều 313 của Bộ luật Hình sự.

Ví dụ: khi vào đổ xăng, A đang hút thuốc lá (lúc này tại cây xăng có 10 người). B yêu cầu A ra ngoài dập tắt thuốc nhưng A không thực hiện mà còn ném điếu thuốc lá đang cháy xuống đất làm lửa bùng cháy, ngay lập tức B đã dùng bình cứu hỏa để dập tắt đám cháy nên chưa có hậu quả xảy ra. Hành vi của A vi phạm quy định về “mang nguồn lửa vào nơi có quy định cấm lửa” và bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 4 Điều 313 của Bộ luật Hình sự.

Điều 5. Truy cứu trách nhiệm hình sự trong một số trường hợp cụ thể

1. Trường hợp người phạm tội thực hiện công việc bắt buộc phải tuân theo quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở nơi đông người nhưng trong quá trình thực hiện họ vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở nơi đông người xảy ra cháy và gây thiệt hại thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 313 của Bộ luật Hình sự mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 295 của Bộ luật Hình sự.

Ví dụ: A được B thuê hàn mái nhà các phòng Karaoke. Trong quá trình hàn, A không trang bị tấm chắn tia kim loại nóng chảy bắn ra, đồng thời không theo dõi quá trình hàn một cách an toàn nên khi các hạt kim loại nóng mang nhiệt độ cao bắn ra xung quanh đã hình thành các đám cháy lớn gây thiệt hại về tài sản 1.000.000.000 đồng. Hành vi của A đã vi phạm quy định tại Mục 2.2.12 Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 03:2011/BLĐTBXH ngày 29 tháng 7 năm 2011 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội về an toàn lao động đối với máy hàn điện và công việc hàn điện. Trường hợp này, A bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 313 của Bộ luật Hình sự.

2. Trường hợp người phạm tội thực hiện nhiều lần hành vi phạm tội, nếu mỗi lần phạm tội có đủ yếu tố cấu thành tội phạm nhưng đều chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự thì ngoài việc bị áp dụng khung hình phạt tương ứng với tổng số thiệt hại của các lần phạm tội, còn bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội từ 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Phần 7. Phân biệt “hành vi vi phạm PCCC” với “tội vi phạm quy định PCCC”

Không phải mọi hành vi vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy đều đồng nghĩa với việc người thực hiện đã phạm tội. Đây là điểm cần phân biệt khi đánh giá trách nhiệm pháp lý trong các vụ việc liên quan đến PCCC. Một hành vi trước hết phải được đối chiếu với quy định pháp luật về phòng cháy, chữa cháy và các quy định có liên quan để xác định có vi phạm hay không. Sau đó, mới xem xét các dấu hiệu cần thiết để xác định trách nhiệm hình sự theo Điều 313 Bộ luật Hình sự.

Hành vi vi phạm PCCC Tội vi phạm quy định PCCC
Có thể chỉ vi phạm quy định chuyên ngành về PCCC Phải có đầy đủ các dấu hiệu của tội phạm
Có thể bị xử phạt hành chính tùy tính chất, mức độ Có thể phát sinh trách nhiệm hình sự khi đủ căn cứ luật định
Không mặc nhiên được coi là tội phạm Phải xác định đầy đủ các yếu tố cấu thành tội phạm
Trọng tâm là xác định quy định PCCC bị vi phạm Phải xem xét hành vi, hậu quả, quan hệ nhân quả, chủ thể và lỗi

Đối với tội vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy, việc xác định hành vi có dấu hiệu tội phạm không thể chỉ dựa vào việc đã xảy ra cháy hoặc có thiệt hại. Cần làm rõ người thực hiện đã vi phạm quy định nào, hành vi đó có gây ra hậu quả thuộc trường hợp luật định hay không, hậu quả có quan hệ nhân quả với hành vi vi phạm hay không, đồng thời xác định chủ thể và lỗi của người thực hiện.

Vì vậy, vi phạm quy định PCCC và tội vi phạm quy định PCCC là hai khái niệm không đồng nhất. Việc phân định cụ thể giữa xử phạt hành chính và trách nhiệm hình sự cần căn cứ vào tính chất hành vi và các dấu hiệu pháp lý của từng trường hợp.

Nếu cần phân tích sâu ranh giới giữa hai cơ chế xử lý, xem thêm [Phân biệt xử phạt hành chính và truy cứu trách nhiệm hình sự về PCCC].


Phần 8. Ví dụ minh họa cách xác định cấu thành tội phạm

Ví dụ 1 — Đủ chuỗi dấu hiệu để xem xét cấu thành tội phạm

Giả định người quản lý một cơ sở sản xuất biết khu vực chứa vật liệu dễ cháy phải tuân thủ các yêu cầu an toàn về phòng cháy, chữa cháy nhưng vẫn cho bố trí nguồn nhiệt ngay sát khu vực này và không thực hiện biện pháp phòng ngừa cần thiết. Sau đó xảy ra cháy, làm một người tử vong và gây thiệt hại lớn về tài sản. Kết quả xác minh cho thấy chính việc không tuân thủ quy định an toàn là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến cháy và hậu quả xảy ra. Người quản lý nhận thức được nguy cơ nhưng cho rằng hậu quả nghiêm trọng sẽ không xảy ra.

Trong tình huống này, cần lần lượt xác định: quy định PCCC bị vi phạm → hành vi vi phạm → hậu quả → quan hệ nhân quả → lỗi của người thực hiện. Nếu các dấu hiệu khác theo Điều 313 Bộ luật Hình sự cũng được xác định đầy đủ, hành vi có cơ sở để xem xét về cấu thành tội vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy.

Ví dụ 2 — Có vi phạm nhưng cần tiếp tục xác định dấu hiệu tội phạm Khoảng

Giả định một chủ cơ sở kinh doanh để hàng hóa gần khu vực có nguồn nhiệt, không bảo đảm đầy đủ một yêu cầu an toàn về phòng cháy, chữa cháy. Đây là hành vi có dấu hiệu vi phạm quy định PCCC. Tuy nhiên, trong tình huống giả định chưa xảy ra cháy, chưa phát sinh thiệt hại và cũng chưa có căn cứ cho thấy hành vi đã tạo ra hậu quả thuộc trường hợp luật định. Do đó, không thể chỉ dựa vào việc có hành vi vi phạm PCCC để mặc nhiên kết luận người này đã phạm tội.

Muốn xác định trách nhiệm hình sự, cần tiếp tục làm rõ quy định cụ thể bị vi phạm, tính chất hành vi, hậu quả hoặc nguy cơ hậu quả theo trường hợp luật định, quan hệ nhân quả, chủ thể và lỗi. Đây là lý do vi phạm quy định PCCC không đồng nghĩa với việc mặc nhiên cấu thành tội phạm.


Phần 9. Câu hỏi thường gặp

❓Cấu thành tội vi phạm quy định PCCC gồm những yếu tố nào?

Cấu thành tội vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy gồm bốn yếu tố cơ bản: khách thể, mặt khách quan, chủ thể và mặt chủ quan. Khi xem xét một hành vi có cấu thành tội phạm hay không, cần đánh giá đầy đủ các dấu hiệu pháp lý này, trong đó đặc biệt chú ý đến hành vi vi phạm, hậu quả, quan hệ nhân quả và lỗi của người thực hiện.

❓Lỗi vô ý có thể là lỗi trong tội vi phạm quy định PCCC không?

Có. Tội vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy có thể được thực hiện do lỗi vô ý, nhưng cần xác định cụ thể dạng lỗi và các dấu hiệu liên quan. Người thực hiện có thể không mong muốn hậu quả xảy ra nhưng do cẩu thả hoặc quá tự tin dẫn đến hậu quả theo quy định. Việc xác định lỗi phải dựa trên chứng cứ của vụ việc.

❓Có phải cứ xảy ra cháy là cấu thành tội vi phạm PCCC?

Không. Việc xảy ra cháy không đồng nghĩa với việc hành vi đương nhiên cấu thành tội vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy. Cần xác định có hành vi vi phạm quy định PCCC hay không, hậu quả thuộc trường hợp pháp luật quy định, quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả, đồng thời xem xét chủ thể và lỗi của người thực hiện.

❓Vi phạm quy định PCCC nhưng không gây thiệt hại có cấu thành tội phạm không?

Không thể kết luận chỉ dựa vào việc có hay không có thiệt hại. Cần phân biệt các trường hợp được quy định tại Điều 313 Bộ luật Hình sự, trong đó khoản 4 có quy định riêng được hướng dẫn tại Nghị quyết 02/2024/NQ-HĐTP về trường hợp hành vi có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời.

❓Ai có trách nhiệm xác định các yếu tố cấu thành tội vi phạm PCCC?

Việc xác định một hành vi có đủ các yếu tố cấu thành tội vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy hay không phải dựa trên chứng cứ và quy định pháp luật. Cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm xác định hành vi vi phạm, hậu quả, quan hệ nhân quả, chủ thể và lỗi để đánh giá dấu hiệu của tội phạm trong từng vụ việc cụ thể.


Phần 10. Kết luận

Để xác định một hành vi có cấu thành tội vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy hay không, cần đánh giá đầy đủ 4 yếu tố cấu thành tội phạm: khách thể, mặt khách quan, chủ thể và mặt chủ quan. Trong đó, việc xác định chính xác hành vi vi phạm quy định PCCC, hậu quả xảy ra và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi với thiệt hại có ý nghĩa quan trọng. Đồng thời, cần làm rõ chủ thể thực hiện hành vi và lỗi của họ trong từng trường hợp cụ thể. Việc đánh giá chỉ dựa trên việc có xảy ra cháy hoặc thiệt hại là chưa đủ để kết luận về trách nhiệm hình sự. Nếu cần xác định dấu hiệu pháp lý và hướng xử lý phù hợp, bạn nên liên hệ luật sư để được tư vấn, đánh giá hồ sơ cụ thể.

☎️ Liên hệ luật sư Hotline/Telegram/Zalo: 0338 919 686 | 0969 566 766

Website: https://luatdungtrinh.vn|

Email:luatdungtrinh@gmail.com|

  • Tags

Tin liên quan

Trình tự, thủ tục khởi tố vụ án hình sự từ A–Z theo quy định mới nhất
Khởi tố vụ án hình sự là bước đầu tiên trong tố tụng nhằm xác định có hay không dấu hiệu tội phạm. Quy trình khởi tố vụ án hình sự bao gồm tiếp nhận tin báo, xác minh và ra quyết định theo luật định. Việc hiểu rõ điều kiện khởi tố, thời hạn xử lý giúp cá nhân, doanh nghiệp bảo vệ quyền lợi hợp pháp
Người dân có quyền tố cáo cán bộ công an không?
Người dân có quyền tố cáo cán bộ công an vi phạm pháp luật không? Phân tích Điều 32 BLTTHS 2015, thẩm quyền, thời hạn, thủ tục và bảo vệ người tố cáo.
Tố cáo cán bộ công an vi phạm pháp luật ở đâu?
Hướng dẫn tố cáo cán bộ công an vi phạm pháp luật đúng thẩm quyền: gửi ở đâu, cơ quan nào giải quyết, căn cứ pháp lý và bảo vệ người tố cáo theo luật.
Tư vấn tố giác tội phạm?
Theo quy định pháp luật, công dân có thể tố giác, tố cáo tội phạm tại bất kỳ cơ quan nhà nước nào, không bị giới hạn cứng nhắc về địa điểm tiếp nhận. Các cơ quan phổ biến gồm: Cơ quan Cảnh sát điều tra; Viện kiểm sát nhân dân;Tòa án nhân dân; Công an xã, phường, thị trấn; Các cơ quan, tổ chức nhà nước khác.
Mẫu đơn tố giác tội phạm mới nhất 2026?
Cập nhật mẫu đơn tố giác, tố cáo tội phạm mới nhất 2026: đánh người, lừa đảo, trộm cắp, vu khống, công an vi phạm. Luật sư Trịnh Văn Dũng tư vấn, hỗ trợ soạn đơn đúng luật.
Trường hợp được phép tạm giữ người?
Tạm giữ người là gì? Khi nào công an được tạm giữ người, thời hạn bao lâu, quyền của người bị tạm giữ và cách xử lý khi tạm giữ trái pháp luật. Luật sư phân tích chi tiết.
Hình fanpage
tvpl
Thông tin luật sư
Đoàn luật sư
Thành phố Hà Nội

Luật sư: TRỊNH VĂN DŨNG

Điện thoại: 0969566766

Zalo: 0338919686

Liên hệ Luật sư qua: youtube
Liên hệ Luật sư qua: tiktok
Liên hệ Luật sư qua: email
Khách hàng đặt câu hỏi tư vấn