Trịnh Văn Dũng
- 21/08/2026
- 1
✅1. Tóm tắt bản án tuyên di chúc vô hiệu
Trong tranh chấp thừa kế tài sản giữa hai anh em ruột, một bên yêu cầu Tòa án công nhận hiệu lực của tờ di chúc do mẹ để lại, trong khi phía còn lại yêu cầu tuyên bố di chúc vô hiệu.
Tờ di chúc được lập năm 2009, có điểm chỉ của người lập và được UBND xã chứng thực. Tuy nhiên, hồ sơ vụ án thể hiện người lập di chúc không biết chữ; tờ di chúc không có người làm chứng, trong khi người trực tiếp viết di chúc lại chính là người được hưởng di sản theo nội dung văn bản.
Ngoài ra, nội dung di chúc không xác định rõ ràng các tài sản là quyền sử dụng đất được định đoạt, không ghi cụ thể số thửa, tờ bản đồ, vị trí nhà đất.
Tòa án cấp sơ thẩm xác định tờ di chúc không bảo đảm cả về hình thức và nội dung nên tuyên vô hiệu. Tại cấp phúc thẩm, TAND tỉnh Tây Ninh giữ nguyên kết luận này, đồng thời sửa một phần bản án sơ thẩm về giá trị di sản, công sức đóng góp và nghĩa vụ thanh toán chênh lệch.
Bản án là một ví dụ thực tiễn đáng chú ý khi xem xét hiệu lực của di chúc viết tay do người không biết chữ lập và có người thừa kế trực tiếp tham gia viết di chúc.
✅2. Thông tin bản án
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Số bản án: 697/2025/DS-PT.
- Ngày tuyên án: 30/9/2025.
- Quan hệ pháp luật tranh chấp: Tranh chấp về thừa kế tài sản, yêu cầu tuyên bố di chúc vô hiệu.
- Cấp xét xử: Phúc thẩm.
- Bản án sơ thẩm bị kháng cáo: Bản án dân sự sơ thẩm số 76/2025/DS-ST ngày 22/5/2025 của TAND huyện Bến Lức, tỉnh Long An.
Do ông Nguyễn Văn Đ chết trong quá trình giải quyết vụ án, vợ và các con của ông tham gia tố tụng với tư cách những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng. Người kháng cáo là ông Nguyễn Văn O, yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét lại một số nội dung của bản án sơ thẩm.
Xem đầy đủ chi tiết bản án tuyên di chúc vô hiệu TẠI ĐÂY
✅3. Nội dung vụ án tranh chấp di chúc
Cụ Nguyễn Thị T4 có hai người con là ông Nguyễn Văn O và ông Nguyễn Văn Đ. Cụ T4 đứng tên một số quyền sử dụng đất, trong đó có các thửa đất số 553, 372 và 1668.
Ngày 21/7/2009, cụ T4 lập một tờ di chúc. Văn bản này được UBND xã T chứng thực ngày 22/7/2009.
Theo trình bày của ông O, di chúc thể hiện ý chí của cụ T4 về việc phân chia tài sản cho hai người con. Ông O cho rằng mình được hưởng một phần thửa đất số 553 và được hưởng nhà, đất tại thửa 372 do đã sống cùng, chăm sóc, phụng dưỡng mẹ trong thời gian dài.
Sau khi cụ T4 chết năm 2019, ông O yêu cầu thực hiện việc phân chia di sản theo di chúc. Tuy nhiên, ông Đ không đồng ý và yêu cầu Tòa án tuyên bố tờ di chúc ngày 21/7/2009 vô hiệu, đồng thời chia di sản của cụ T4 theo pháp luật.
Phía ông Đ cho rằng căn nhà và thửa đất số 372 phải được chia cho hai anh em; thửa 553 cũng phải được chia theo phần của mỗi bên. Đối với thửa 1668, phía ông Đ đề nghị chia cho ông O và những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Đ mỗi bên một phần.
Đối với khoản tiền bồi thường, hỗ trợ hơn 3,328 tỷ đồng, phía ông O cho rằng đây là tài sản của cụ T4 và phải được đưa vào khối di sản để chia thừa kế. Ngược lại, phía những người thừa kế của ông Đ cho rằng cụ T4 đã ủy quyền cho ông Đ nhận tiền và giữa các bên không có tranh chấp về khoản tiền này khi cụ T4 còn sống.
✅4. Vì sao phía bị đơn yêu cầu tuyên di chúc vô hiệu?
Điểm trọng tâm của vụ án nằm ở tờ di chúc viết tay ngày 21/7/2009.
Trong quá trình giải quyết vụ án, các bên đều xác định cụ Nguyễn Thị T4 không biết chữ. Trong khi đó, ông Nguyễn Văn O thừa nhận chính mình là người viết tờ di chúc và ông cũng là người được hưởng di sản theo nội dung di chúc.
Tờ di chúc có điểm chỉ của cụ T4 và được UBND xã chứng thực. Tuy nhiên, văn bản không có người làm chứng.
Bên cạnh đó, nội dung di chúc không xác định cụ thể các tài sản là quyền sử dụng đất mà cụ T4 muốn định đoạt. Di chúc không thể hiện rõ số thửa, tờ bản đồ, vị trí nhà đất.
Phía những người thừa kế của ông Đ cho rằng những thiếu sót này khiến tờ di chúc không đáp ứng điều kiện về hình thức và nội dung, do đó phải bị tuyên vô hiệu.
✅5. Tòa án xác định di chúc vô hiệu vì những lý do nào?
Đây là nội dung có giá trị tham khảo quan trọng nhất của bản án.
5.1. Người lập di chúc không biết chữ
Hồ sơ thể hiện cụ Nguyễn Thị T4 không biết chữ.
Trong trường hợp này, việc lập di chúc không chỉ được xem xét ở khía cạnh người lập có điểm chỉ hay không, mà còn phải bảo đảm các yêu cầu về hình thức của di chúc phù hợp với tình trạng của người lập.
Tòa án phúc thẩm ghi nhận tờ di chúc được viết tay, có điểm chỉ của cụ T4. Tuy nhiên, tờ di chúc không có người làm chứng, trong khi người được hưởng di sản lại chính là người viết di chúc.
Đây là tình tiết đặc biệt quan trọng trong việc đánh giá tính hợp pháp của văn bản.
5.2. Người được hưởng di sản trực tiếp viết di chúc
Ông Nguyễn Văn O xác nhận mình là người viết tờ di chúc.
Đồng thời, ông O cũng là người được hưởng di sản theo nội dung văn bản.
Tòa án xem xét tình tiết này cùng với việc cụ T4 không biết chữ và di chúc không có người làm chứng.
Điều này làm phát sinh vấn đề về tính khách quan trong quá trình lập di chúc. Đặc biệt, khi người viết di chúc đồng thời là người được hưởng tài sản, việc chứng minh rằng nội dung văn bản phản ánh đúng ý chí tự nguyện của người để lại di sản trở nên đặc biệt quan trọng.
Trong vụ án này, Tòa án không công nhận hiệu lực của tờ di chúc.
5.3. Di chúc không có người làm chứng
Tờ di chúc có điểm chỉ của cụ T4 nhưng không có người làm chứng.
Tòa án cấp phúc thẩm xác định đây là một trong những thiếu sót về hình thức của di chúc.
Tòa án dẫn chiếu Điều 652 và Điều 658 Bộ luật Dân sự năm 2005 khi đánh giá hiệu lực của tờ di chúc được lập vào năm 2009. Kết luận của cấp sơ thẩm về việc di chúc vi phạm quy định về hình thức và nội dung được cấp phúc thẩm xác định là có căn cứ.
5.4. Nội dung di chúc không xác định rõ tài sản
Một vấn đề khác được Tòa án nhấn mạnh là nội dung tờ di chúc không xác định rõ tài sản được định đoạt.
Đối với quyền sử dụng đất, tờ di chúc không ghi rõ số thửa, tờ bản đồ và vị trí căn nhà.
Việc xác định tài sản là yếu tố quan trọng để xác định phạm vi di sản mà người lập di chúc muốn định đoạt. Khi nội dung văn bản không đủ rõ để xác định tài sản, việc thực hiện di chúc có thể phát sinh tranh chấp và khó xác định chính xác ý chí của người để lại di sản.
Trong vụ án này, Tòa án nhận định tờ di chúc vi phạm cả về hình thức và nội dung nên tuyên vô hiệu.
✅6. Pháp luật áp dụng để xem xét hiệu lực di chúc
Một điểm đáng chú ý của bản án là thời điểm lập di chúc và thời điểm người lập di chúc chết khác nhau.
Tờ di chúc được lập năm 2009, còn cụ T4 chết năm 2019. Do đó, khi giải quyết tranh chấp, Tòa án xác định cần áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2005, Bộ luật Dân sự năm 2015 và các văn bản pháp luật có liên quan.
Trong quyết định phúc thẩm, Tòa án viện dẫn Điều 652 và Điều 658 Bộ luật Dân sự năm 2005 để xem xét hiệu lực của tờ di chúc; đồng thời áp dụng các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 về thừa kế, trong đó có Điều 651 và Điều 660.
Việc xác định đúng pháp luật áp dụng theo thời điểm lập di chúc và thời điểm mở thừa kế là vấn đề quan trọng trong các vụ án tranh chấp di chúc.
✅7. Di chúc vô hiệu thì di sản được chia như thế nào?
Do tờ di chúc ngày 21/7/2009 bị tuyên vô hiệu, phần di sản thuộc phạm vi tranh chấp được chia theo pháp luật.
Tòa án xác định hàng thừa kế thứ nhất của cụ T4 gồm ông Nguyễn Văn O và ông Nguyễn Văn Đ. Ông Đ chết trong quá trình tố tụng nên những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Đ tiếp tục tham gia vụ án.
Tại cấp phúc thẩm, Tòa án chia một số tài sản bằng hiện vật trên cơ sở hiện trạng quản lý, sử dụng và đặc điểm của tài sản.
Theo phán quyết phúc thẩm:
- Ông Nguyễn Văn O được nhận khu A thuộc một phần thửa đất 372, diện tích thực tế 673,6 m² và toàn bộ công trình, vật kiến trúc trên đất.
- Ông O được nhận khu B thuộc một phần thửa đất 553, diện tích thực tế 5.413,1 m².
- Những người thừa kế của ông Nguyễn Văn Đ được nhận khu B3 thuộc một phần thửa đất 553, diện tích thực tế 7.860,1 m².
Tòa án lựa chọn phương án này thay vì chia đôi toàn bộ nhà đất vì hiện trạng sử dụng tài sản đã được phân chia trên thực tế và việc chia đôi căn nhà, công trình có thể ảnh hưởng đến công năng sử dụng và giá trị tài sản.
✅8. Vì sao Tòa án không chia đôi nhà, đất bằng hiện vật?
Ông O kháng cáo, đề nghị chia thửa đất 372 và thửa 553 bằng hiện vật cho hai bên.
Tuy nhiên, Tòa án không chấp nhận toàn bộ yêu cầu này.
Đối với thửa 372, hồ sơ cho thấy phần đất có nhiều công trình nhà ở, giếng nước, mái che và các tài sản gắn liền với đất. Ông O là người trực tiếp quản lý, sử dụng nhà đất này.
Nếu chia đôi bằng hiện vật, việc chia có thể làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến công năng sử dụng và giá trị của nhà ở, công trình trên đất.
Đối với thửa 553, khu B và khu B3 đã có ranh giới quản lý, sử dụng trên thực tế. Ông O quản lý khu B, trong khi ông Đ quản lý khu B3. Khu B3 còn có công trình, vật kiến trúc do ông Đ xây dựng.
Tòa án vì vậy áp dụng phương án giao hiện vật cho bên đang quản lý, sử dụng phù hợp, sau đó tính toán phần giá trị chênh lệch để thanh toán.
✅9. Công sức chăm sóc cha mẹ có được tính khi chia thừa kế?
Ngoài tranh chấp về hiệu lực di chúc, ông O còn yêu cầu tăng khoản tiền được tính cho công sức chăm sóc cụ T4 và công sức duy trì, tôn tạo di sản.
Hồ sơ thể hiện ông O sống cùng cụ T4 trong thời gian dài, từ năm 1985 đến khoảng năm 2017-2018. Trong thời gian quản lý, sử dụng nhà đất tại thửa 372, vợ chồng ông O cũng bỏ chi phí sửa chữa, xây dựng thêm nhiều hạng mục như nhà tắm, nhà vệ sinh, nhà bếp, nâng nền, lát gạch, mái che, hàng rào.
Tòa án ghi nhận những đóng góp này.
Tuy nhiên, ông O không được chấp nhận yêu cầu tính thêm 100 triệu đồng mỗi năm cho công sức chăm sóc mẹ. Tòa án cho rằng con cái có nghĩa vụ cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ, đặc biệt khi cha mẹ già yếu, ốm đau.
Cấp sơ thẩm đã trích cho ông O:
- 200 triệu đồng công sức đóng góp vào di sản;
- 500 triệu đồng công sức phụng dưỡng, chăm sóc cụ T4.
Tổng cộng 700 triệu đồng.
Tại cấp phúc thẩm, ông O không cung cấp thêm được chứng cứ đủ để chứng minh công sức thực tế cao hơn mức này. Do đó, Tòa án giữ nguyên khoản 700 triệu đồng.
✅10. Khoản tiền bồi thường hơn 3,3 tỷ đồng có phải di sản?
Ông O yêu cầu chia thừa kế khoản tiền 3.328.731.832 đồng mà cụ T4 được nhận liên quan đến việc thu hồi đất và ảnh hưởng hành lang an toàn lưới điện.
Theo hồ sơ, khoản tiền này được nhận năm 2018 và ông Đ là người nhận thay cụ T4 theo giấy ủy quyền ngày 16/1/2019.
Sau đó, năm 2019 có khoản tiền bồi thường, hỗ trợ khác là hơn 7,167 tỷ đồng. Năm 2020, ông O và ông Đ đã lập văn bản phân chia khoản tiền này, trong đó ông O nhận hơn 6,596 tỷ đồng và ông Đ nhận hơn 570 triệu đồng.
Điểm quan trọng là khi hai bên lập văn bản phân chia vào năm 2020, họ không đề cập đến khoản tiền 3.328.731.832 đồng đã được ông Đ nhận trước đó.
Tòa án còn xác định phần diện tích đất liên quan đến khoản bồi thường năm 2018 thuộc khu B3 do ông Đ quản lý, sử dụng.
Từ những tình tiết này, Hội đồng xét xử cho rằng giữa ông O và ông Đ đã có sự thỏa thuận thực tế về việc phân chia tiền bồi thường theo phần diện tích đất mỗi bên quản lý. Do đó, không có căn cứ chấp nhận yêu cầu của ông O về việc đưa khoản tiền hơn 3,328 tỷ đồng vào di sản để chia thừa kế.
✅11. Tòa án phúc thẩm tính lại giá trị di sản
Một nội dung được cấp phúc thẩm sửa là việc xác định giá trị tài sản.
Tại cấp phúc thẩm, Hội đồng định giá tiến hành định giá lại ngày 26/9/2025. Tòa án nhận thấy kết quả định giá cũ đã quá thời hạn hiệu lực và giá trị tài sản đã có thay đổi.
Tổng giá trị các tài sản đang tranh chấp gồm thửa 372, thửa 553 và công trình trên thửa 372 được xác định là 23.424.879.687 đồng.
Sau khi trừ khoản công sức 700 triệu đồng của ông O, giá trị di sản còn lại là 22.724.879.687 đồng.
Theo đó, mỗi bên được hưởng giá trị thừa kế tương ứng 11.362.439.844 đồng.
Ông O được nhận hiện vật gồm nhà, đất thửa 372, công trình trên đất và khu B thửa 553, với tổng giá trị theo kết quả định giá tại cấp phúc thẩm là 9.931.437.927 đồng.
Phần giá trị ông O được hưởng theo kỷ phần cao hơn giá trị tài sản thực tế nhận bằng hiện vật. Vì vậy, những người thừa kế của ông Đ phải thanh toán phần chênh lệch cho ông O.
Kết quả cuối cùng, những người thừa kế của ông Đ phải liên đới thanh toán cho ông O:
- 1.431.002.000 đồng giá trị kỷ phần thừa kế chênh lệch;
- 700.000.000 đồng tiền công sức;
- Tổng cộng: 2.131.002.000 đồng.
✅12. Kết quả xét xử phúc thẩm
Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận một phần kháng cáo của ông Nguyễn Văn O và sửa một phần bản án sơ thẩm.
Đáng chú ý, Tòa án vẫn giữ nguyên kết luận:
Tờ di chúc mang tên Nguyễn Thị T4 lập ngày 21/7/2009, được UBND xã T chứng thực ngày 22/7/2009 là vô hiệu.
Tài sản được phân chia chủ yếu theo pháp luật thừa kế và hiện trạng sử dụng thực tế. Ông O nhận thửa 372 cùng công trình trên đất và khu B thửa 553; những người thừa kế của ông Đ nhận khu B3 thửa 553.
Đối với thửa 1668, phần bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị vẫn có hiệu lực. Ông O được nhận khu A1 diện tích 714,3 m²; những người thừa kế của ông Đ nhận khu A diện tích 714,3 m².
Tòa án cũng quyết định ông O và những người thừa kế của ông Đ được miễn án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
✅13. Bài học pháp lý từ bản án tuyên di chúc vô hiệu
Từ vụ án trên, có thể rút ra một số vấn đề quan trọng khi lập di chúc và giải quyết tranh chấp thừa kế.
Thứ nhất, hình thức di chúc phải phù hợp với trường hợp cụ thể
Không phải mọi văn bản có chữ ký hoặc điểm chỉ của người để lại di sản đều đương nhiên có giá trị pháp lý.
Khi xem xét hiệu lực di chúc, cần kiểm tra điều kiện về hình thức, chủ thể lập di chúc, người làm chứng và các yêu cầu pháp luật tương ứng với từng hình thức di chúc.
Thứ hai, cần đặc biệt lưu ý khi người lập di chúc không biết chữ
Trường hợp người lập di chúc không biết chữ cần được thực hiện đúng hình thức pháp luật quy định.
Việc chỉ có điểm chỉ nhưng không bảo đảm các điều kiện cần thiết khác có thể dẫn đến tranh chấp và nguy cơ di chúc bị Tòa án tuyên vô hiệu.
Trong bản án này, tình tiết cụ T4 không biết chữ được xem xét cùng với việc di chúc không có người làm chứng.
Thứ ba, người hưởng di sản không nên trực tiếp viết di chúc cho mình hưởng
Trong vụ án, ông O vừa là người viết di chúc vừa là người được hưởng di sản.
Tình tiết này không thể tách rời khỏi các thiếu sót khác của văn bản khi Tòa án đánh giá tính hợp pháp của di chúc.
Để hạn chế tranh chấp, người lập di chúc nên thể hiện ý chí một cách độc lập, minh bạch và tuân thủ đúng hình thức pháp luật.
Thứ tư, nội dung di chúc cần xác định rõ tài sản
Đối với bất động sản, di chúc nên thể hiện đầy đủ thông tin giúp xác định chính xác tài sản được định đoạt.
Trong vụ án này, việc tờ di chúc không thể hiện rõ số thửa, tờ bản đồ và vị trí căn nhà là một trong những căn cứ khiến Tòa án xác định di chúc có vấn đề về nội dung.
Thứ năm, di chúc vô hiệu không đồng nghĩa toàn bộ yêu cầu của người khởi kiện đều bị bác
Mặc dù ông O không được công nhận di chúc, ông vẫn được hưởng phần di sản theo pháp luật.
Tòa án còn xem xét công sức chăm sóc, phụng dưỡng và công sức duy trì, tôn tạo tài sản để xác định quyền lợi của ông O.
Điều này cho thấy khi giải quyết tranh chấp thừa kế, Tòa án không chỉ xem xét hiệu lực di chúc mà còn phải xác định đầy đủ khối di sản, hàng thừa kế, công sức đóng góp, hiện trạng quản lý tài sản và giá trị tài sản.
✅14. Kết luận
Bản án số 697/2025/DS-PT ngày 30/9/2025 của TAND tỉnh Tây Ninh là một vụ việc thực tiễn đáng chú ý về tuyên bố di chúc vô hiệu.
Tòa án xác định tờ di chúc viết tay ngày 21/7/2009 không đáp ứng yêu cầu về hình thức và nội dung. Người lập di chúc không biết chữ, di chúc không có người làm chứng, trong khi người được hưởng di sản trực tiếp viết di chúc. Nội dung văn bản cũng không xác định rõ các tài sản là quyền sử dụng đất được định đoạt. Vì vậy, Tòa án giữ nguyên kết luận tuyên di chúc vô hiệu.
Sau khi di chúc bị tuyên vô hiệu, di sản được chia theo pháp luật. Tòa án đồng thời xem xét công sức chăm sóc, phụng dưỡng và tôn tạo di sản của người thừa kế, cũng như hiện trạng sử dụng đất để lựa chọn phương án chia bằng hiện vật và thanh toán giá trị chênh lệch.
Kết quả phúc thẩm, những người thừa kế của ông Nguyễn Văn Đ phải liên đới thanh toán cho ông Nguyễn Văn O tổng cộng 2.131.002.000 đồng, gồm giá trị kỷ phần thừa kế chênh lệch và công sức của ông O.
Vụ án cho thấy khi lập di chúc, đặc biệt đối với người cao tuổi, người không biết chữ hoặc có tài sản là nhà đất, việc tuân thủ chặt chẽ quy định về hình thức, người làm chứng, nội dung định đoạt tài sản và ý chí tự nguyện của người lập di chúc có ý nghĩa quyết định trong việc bảo đảm di chúc được công nhận khi phát sinh tranh chấp.
☎️ Liên hệ luật sư Hotline/Telegram/Zalo: 0338 919 686 | 0969 566 766
Website: https://luatdungtrinh.vn|
Email:luatdungtrinh@gmail.com|